Không phải 3.450.000 đồng, Chính phủ thống nhất năm 2026 chọn 3.700.000 đồng để làm cơ sở thực hiện tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa, cụ thể ra sao?

Chính phủ thống nhất năm 2026 chọn 3.700.000 đồng để làm cơ sở thực hiện tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa cho đối tượng nào?

Theo Thư viện Pháp luật, Chính phủ thống nhất năm 2026 chọn 3.700.000 đồng để làm cơ sở thực hiện tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa cho người lao động làm việc tại Vùng 4 thay vì 3.450.000 đồng như mức lương quy định ở năm 2025.

Cụ thể:

Điều 39 Luật Việc làm 2025 (hiệu lực từ 01/01/2026) mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Do đó, trợ cấp thất nghiệp tối đa từ năm 2026 thống nhất thực hiện theo công thức sau:

TCTN tối đa = 5 x Mức lương tối thiểu vùng

Theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP đầu năm 2026 thì mức thấp nhất ở vùng 4 là 3,700,000 đồng và cao nhất ở vùng 1 là 5,310,000 đồng.

Lương tối thiểu vùng 2025 và dự kiến 2026

Ảnh: Thư viện Pháp luật

Như vậy, mức lương tối thiểu tại vùng 4 năm 2025 là 3,450,000 đồng sang năm 2026 tăng lên 3,700,000 đồng. Và theo như Luật Việc làm thì từ đầu 2026 sẽ thống nhất áp dụng mức lương tối thiểu vùng để tính mức đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa.

Do đó, từ 2026 thống nhất chọn 3.700.000 đồng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa thay vì 3.450.000 đồng cho người lao động tại vùng 4.

Bên cạnh đó, tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp được xác định như sau:

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 34 Luật Việc làm 2025.

2-1772813923.jpg
Từ 2026, thống nhất chọn 3.700.000 đồng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa thay vì 3.450.000 đồng cho người lao động tại vùng 4. Ảnh minh họa

Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương. Trong đó:

- Mức lương theo công việc hoặc chức danh tính theo thời gian (theo tháng) của công việc hoặc chức danh theo thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 được thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

- Các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương tại điểm a khoản này chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không bao gồm khoản phụ cấp lương phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động.

- Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương theo quy định tại điểm a khoản này, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương; không bao gồm các khoản bổ sung khác phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động.

- Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc.

(Căn cứ Điều 7 Nghị định 374/2025/NĐ-CP)

Phương Anh (T/h)