Mỗi tháng người cao tuổi được nhận 1.080.000 đồng từ 05/10/2026 theo Nghị định 335 khi thuộc trường hợp nào?
Theo Thư viện pháp luật, mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 335/2026/NĐ-CP là 540.000 đồng/tháng.
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định như sau:
"Điều 6. Mức trợ cấp xã hội hằng tháng
- Tiền mừng thọ 90 tuổi, 100 tuổi đối với người cao tuổi theo Thông tư 96 là bao nhiêu?
- Từ 01/01/2027, đề xuất hỗ trợ từ 3.000.000 đồng đến 3.500.000 đồng/tháng cho trẻ em, người cao tuổi theo Dự thảo Nghị quyết, cụ thể khi đáp ứng những điều kiện nào?
- Từ 5/9/2026 chi trả mức hỗ trợ mới cho Chi hội trưởng hội Phụ nữ, Nông dân, Chữ thập đỏ, Cựu chiến binh, Người cao tuổi và Bí thư chi đoàn thanh niên với mức bao nhiêu theo Nghị quyết 28?
1. Đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này được trợ cấp xã hội hằng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số tương ứng quy định như sau:

...
đ) Đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định này:
Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 60 tuổi đến dưới 75 tuổi;
Hệ số 2,0 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 75 tuổi trở lên;
e) Đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 Nghị định này:
Hệ số 2,0 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng;
Hệ số 2,5 đối với trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng;
Hệ số 1,5 đối với người khuyết tật nặng;
Hệ số 2,0 đối với trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng.
..."
Mỗi tháng người cao tuổi được nhận 1.080.000 đồng từ 05/10/2026 theo Nghị định 335 khi thuộc trường hợp:
- Từ đủ 75 tuổi trở lên thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng;
- Người cao tuổi là người khuyết tật nặng.
Lưu ý: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức quy định tại Nghị định 335/2026/NĐ-CP.
Người khuyết tật nặng có được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh không?
Căn cứ khoản 2 Điều 23 Luật Người khuyết tật 2010 quy định như sau:
"Điều 23. Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Thực hiện biện pháp khám bệnh, chữa bệnh phù hợp cho người khuyết tật.
2. Ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khuyết tật có thai theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

3. Tư vấn biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật; xác định khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ em sơ sinh để kịp thời có biện pháp điều trị và chỉnh hình, phục hồi chức năng phù hợp.
4. Thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ khám bệnh, chữa bệnh chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật."
Theo đó, người khuyết tật nặng là đối tượng được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
Thế nào là người khuyết tật nặng?
Căn cứ tiểu mục 3 Mục I Phần 1 Hướng dẫn ban hành kèm theo Quyết định 2170/QĐ-BYT năm 2022 hướng dẫn về mức độ khuyết tật như sau:
“3. Dạng tật và mức độ khuyết tật
...
3.3. Mức độ khuyết tật:
Điều 3, Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định cụ thể về mức độ khuyết tật:
“1. Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khắc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
2. Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
3.Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.”
Như vậy, người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.