Mức hỗ trợ từ 28/8/2026 cho Phó Bí thư chi đoàn và Chi hội phó hội Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh theo Nghị quyết 26 là bao nhiêu?
Xét Tờ trình số 166/TTr-UBND ngày 26 tháng 8 năm 2026 của Ủy ban nhân dân thành phố; Báo cáo thẩm tra số 109/BC-BPC ngày 26 tháng 8 năm 2026 của Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân thành phố và ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố tại kỳ họp;
Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết quy định số lượng, chức danh, mức phụ cấp, hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách và các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Đồng Nai.
Đối với các chức danh: Phó các tổ chức thuộc mỗi Chi hội đoàn thể (Chi đoàn Thanh niên, Chi hội Hội Liên hiệp phụ nữ; Chi hội Hội Nông dân, Chi hội Hội Cựu chiến binh): Mức hỗ trợ bằng 0,3 x mức lương cơ sở/người/tháng.
Mức lương cơ sở để tính mức hỗ trợ là 2.530.000 đồng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP.
Mức hỗ trợ mới cho 04 chức danh Phó Bí thư chi đoàn và Chi hội phó hội Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh theo Nghị quyết 26 là 759.000 đồng.

Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố có quyền gì trong việc lựa chọn người tham gia hoạt động ở thôn?
Căn cứ quy định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về số lượng, chức danh người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố, Trưởng thôn, Tổ trưởng lựa chọn người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố sau khi thống nhất với Bí thư Chi bộ, Trưởng ban Công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố. Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận và cho thôi làm người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố.
(Căn cứ khoản 3 Điều 6 Nghị định 185/2026/NĐ-CP)
Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố chịu sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, phân công nhiệm vụ của cấp nào?
Điều 16 Nghị định 185/2026/NĐ-CP quy định người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố chịu sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, phân công nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã và quy định của pháp luật có liên quan.

Cụ thể:
Quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
- Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố chịu sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, phân công nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã và quy định của pháp luật có liên quan.
- Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao; ưu tiên bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền, vận động Nhân dân, hòa giải ở cơ sở, tổ chức hoạt động cộng đồng dân cư; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, sử dụng nền tảng số, cập nhật dữ liệu, khai thác cơ sở dữ liệu và hỗ trợ Nhân dân tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến theo quy định. Khi được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng thì được hưởng chế độ theo quy định của pháp luật.
- Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và các chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và quy định của pháp luật hiện hành.
- Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố nghỉ do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Chính phủ về tinh giản biên chế.
- Căn cứ quy định của Nghị định 185/2026/NĐ-CP và điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và việc quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố và người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố.
(khoản 1 Điều 16 Nghị định 185/2026/NĐ-CP)