Quy định xử phạt mới đang thu hút sự quan tâm của người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, đặc biệt những trường hợp chuẩn bị hết hạn hợp đồng hoặc có ý định tiếp tục ở lại nước sở tại sau khi hợp đồng kết thúc.
Theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ, từ ngày 10/9/2026, hành vi tự ý ở lại nước ngoài trái pháp luật sau khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề sẽ chịu mức xử phạt đáng chú ý.
Tự ý ở lại nước ngoài sau khi hết hợp đồng có thể bị phạt 100 triệu đồng
- Đề xuất về trường hợp được trả lương, thưởng cho người lao động bằng tiền mặt
- Người lao động nào được hỗ trợ đến 525.000 đồng chi phí khám sức khỏe theo Nghị quyết 45, cụ thể khi thuộc trường hợp nào?
- Không chi trả tiền lương tháng 9/2026 cho CBVC và người lao động thuộc diện sắp xếp theo Công văn 14502 khi thuộc trường hợp nào?
Điểm đáng chú ý tại Điều 53 Nghị định 283/2026/NĐ-CP là quy định mức phạt đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Theo đó, người lao động có hành vi tự ý ở lại nước ngoài trái pháp luật sau khi hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề đã chấm dứt có thể bị phạt tiền từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng.
Tuy nhiên, quy định này được áp dụng khi hành vi ở lại không xuất phát từ việc người lao động bị đe dọa hoặc ép buộc dưới bất kỳ hình thức nào, đồng thời hành vi chưa thuộc trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, không phải mọi trường hợp người lao động chưa về nước sau khi hợp đồng kết thúc đều mặc nhiên bị phạt 100 triệu đồng. Cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào tính chất, hoàn cảnh và các điều kiện cụ thể của hành vi để xử lý theo quy định.
Mức phạt từ 80-100 triệu đồng áp dụng đối với cá nhân người lao động là một trong những nội dung đáng chú ý của chính sách xử phạt mới.

Không chỉ người lao động, tổ chức và cá nhân liên quan cũng có thể bị phạt nặng
Nghị định 283/2026/NĐ-CP không chỉ quy định trách nhiệm của người lao động mà còn đưa ra chế tài đối với những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm liên quan đến việc đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Theo đó, tổ chức hoặc cá nhân có thể bị phạt từ 80-100 triệu đồng nếu thực hiện một số hành vi như quảng cáo, tư vấn về việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi không có chức năng; tổ chức tuyển chọn hoặc thu tiền của người lao động khi không được phép.
Mức phạt tương tự cũng được áp dụng đối với hành vi cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ hoặc lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái phép, nếu hành vi chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, hành vi giả mạo giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nếu chưa bị xử lý hình sự, cũng thuộc nhóm hành vi bị phạt từ 80-100 triệu đồng.
Đối với chi nhánh doanh nghiệp dịch vụ thực hiện hoạt động đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài ngoài phạm vi nhiệm vụ được doanh nghiệp giao hoặc ngoài thời gian được giao, mức phạt có thể lên tới 180-200 triệu đồng.
Những hình thức người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Pháp luật hiện hành quy định người lao động Việt Nam có thể đi làm việc ở nước ngoài theo nhiều hình thức khác nhau.
Một trong số đó là ký hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với đơn vị sự nghiệp nhằm thực hiện thỏa thuận quốc tế.
Người lao động cũng có thể ký hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng văn bản với doanh nghiệp Việt Nam hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu hoặc nhận thầu công trình, dự án tại nước ngoài; doanh nghiệp đưa lao động đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước ngoài hoặc tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.
Một hình thức khác là người lao động trực tiếp ký hợp đồng lao động với người sử dụng lao động ở nước ngoài.
Việc xác định đúng hình thức đi làm việc ở nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của người lao động.
Người lao động có những nghĩa vụ gì khi làm việc ở nước ngoài?
Bên cạnh quyền lợi, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải thực hiện nhiều nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Trước hết, người lao động phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ nơi mình làm việc. Đồng thời, phải tôn trọng phong tục, tập quán, văn hóa của nước tiếp nhận lao động.
Trong quá trình làm việc, người lao động có trách nhiệm thực hiện đúng hợp đồng, làm việc tại địa điểm được quy định, chấp hành nội quy và kỷ luật lao động cũng như sự quản lý của người sử dụng lao động.
Đáng chú ý, pháp luật quy định người lao động phải về nước đúng thời hạn sau khi hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề chấm dứt. Sau khi nhập cảnh trở về, người lao động còn phải thực hiện nghĩa vụ thông báo với cơ quan đăng ký cư trú theo quy định.
Ngoài ra, người lao động phải thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến tiền dịch vụ, ký quỹ, thuế, bảo hiểm xã hội, các hình thức bảo hiểm khác và đóng góp vào Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước.

Quy định mới có hiệu lực từ thời điểm nào?
Nghị định 283/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành nhằm quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Theo các thông tin được công bố, nghị định có hiệu lực từ ngày 10/9/2026.
Một điểm đáng chú ý khác là thời hiệu xử phạt đối với vi phạm trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được quy định là 2 năm.
Do đó, người lao động đang làm việc ở nước ngoài cần chủ động kiểm tra thời hạn hợp đồng, tình trạng giấy tờ và các điều kiện cư trú, lao động tại nước sở tại. Khi hợp đồng kết thúc, việc tiếp tục ở lại cần được thực hiện trên cơ sở pháp lý phù hợp, thay vì tự ý lưu trú hoặc làm việc trái quy định.
Tóm lại, từ ngày 10/9/2026, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài tự ý ở lại trái pháp luật sau khi hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề chấm dứt có thể bị phạt từ 80-100 triệu đồng. Quy định này không áp dụng theo cách máy móc đối với trường hợp người lao động bị đe dọa, ép buộc hoặc hành vi đã thuộc diện xử lý hình sự.
Người lao động vì vậy cần đặc biệt lưu ý thời hạn hợp đồng và quy định về cư trú, làm việc tại nước sở tại để tránh phát sinh vi phạm và những hậu quả pháp lý không đáng có.