
Mức trợ cấp đối với giáo viên mầm non đã nghỉ công tác chưa được hưởng chế độ dự kiến ra sao?
Căn cứ Dự thảo Nghị quyết về chế độ trợ cấp đối với giáo viên mầm non đã nghỉ công tác chưa được hưởng chế độ.
Theo đó, để được hưởng chế độ trợ cấp đối với giáo viên mầm non đã nghỉ công tác chưa được hưởng chế độ thì giáo viên mầm non phải đáp ứng đủ các điều kiện:
- Đã có thời gian tham gia công tác (bao gồm thời gian giảng dạy, giáo dục, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ) tại nhà trẻ, lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục mầm non) ở các xã, phường, khu phố, thôn, làng, bản, nông lâm trường, đội sản xuất, hợp tác xã, nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, xí nghiệp, co quan... trong giai đoạn từ năm 1960 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 1995;
- Đã nghi công tác nhưng chưa được hưởng lương hưu hoặc có được hưởng lương hưu nhưng thời gian công tác trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 theo quy định tại điểm a khoản này không được tính vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để hưởng lương hưu;
- Chưa hưởng chế độ theo quy định tại Nghị định 14/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ quy định chế độ trợ cấp đối với nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu.
Đồng thời, giáo viên mầm non đáp ứng các điều kiện trên được hưởng trợ cấp một lần tính theo thời gian công tác, giảng dạy, nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ (sau đây gọi chung là thời gian công tác) thực tế chưa được hưởng chế độ.
(1) Mức trợ cấp một lần đối với trường hợp đã nghỉ công tác nhưng chưa được hưởng lương hưu như sau:
- Trường hợp có thời gian công tác từ đủ 03 năm (36 tháng) trở xuống tại cơ sở giáo dục mầm non thì được hưởng mức trợ cấp bằng 6.500.000 đồng:
- Trường hợp có thời gian công tác trên 03 năm thì từ năm thứ 4 trở đi cứ mỗi năm (đủ 12 tháng) được cộng thêm 800.000 đồng.

Khi tính thời gian thực hiện chế độ trợ cấp một lần, nếu có tháng lẻ thì cứ đủ 01 tháng (30 ngày) thì mỗi tháng được cộng thêm 67.000 đồng. Số ngày công tác còn dư không đủ 01 tháng không được hưởng.
- Trường hợp có thời gian tham gia công tác tại các cơc sở giáo dục mầm non gián đoạn thì được cộng dồn để tính hưởng chế độ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 3 Dự thảo Nghị quyết;
- Trường hợp vừa có giai đoạn xác định được thời gian công tác vừa có giai đoạn không xác định được thời gian công tác, thì tổng thời gian của các giai đoạn xác định được thời gian công tác được tính làm căn cứ đế hưởng chế độ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 3 Dự thảo Nghị quyết.
(2) Trường hợp không xác định cụ thể thời gian tham gia công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non hoặc không có giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết này để chứng minh đã có thời gian công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non (bao gồm cả trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 4 Nghị quyết này) thì được hưởng mức trợ cấp một lần bằng 6.500.000 đồng.
(3) Trường hợp đã hưởng trợ cấp một lần đối với thời gian công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì được hưởng mức trợ cấp một lần bằng 6.500.000 đồng.
(4) Trường hợp được hưởng lương hưu nhưng thời gian công tác tại các co sở giáo dục mầm non trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 không được tính vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để hưởng lương hưu thì được hưởng mức trợ cấp một lần bằng 6.500.000 đồng.
(5) Trường hợp giáo viên đủ điều kiện hưởng trợ cấp theo quy định tại Nghị quyết này, chưa được giải quyết chế độ mà từ trần thì người đại diện hợp pháp của thân nhân giáo viên mầm non đã từ trần (bao gồm: vợ, chồng, cha để, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi) làm hồ sơ và nhận chế độ trợ cấp theo quy định. Người đại diện theo ủy quyền của thân nhân giáo viên mầm non đã từ trần chịu trách nhiệm trước pháp luật về hồ sơ và khoản tiền trợ cấp nhận được.
Trường hợp giáo viên mầm non bị mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ hoặc người giám hộ đương nhiên theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là người giám hộ) làm hồ sơ và nhận chế độ trợ cấp theo quy định. Người giám hộ chịu trách nhiệm trước pháp luật về hồ sơ và khoản tiền trợ cấp nhận được.

Giáo viên mầm non phải đáp ứng các tiêu chuẩn về đạo đức như thế nào?
Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 28/2026/TT-BGDĐT, giáo viên mầm non phải đáp ứng các tiêu chuẩn về đạo đức sau:
- Chấp hành chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành và địa phương.
- Thường xuyên trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước trẻ em và cộng đồng. Đảm bảo tính trung thực, minh bạch trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
- Yêu nghề, thương yêu trẻ em; biết quản lý cảm xúc; đối xử công bằng, tôn trọng trẻ em; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; có tinh thần đoàn kết, hợp tác và giúp đỡ đồng nghiệp.
- Thực hiện đúng quy tắc ứng xử của nhà giáo; tuân thủ nội quy, quy chế của cơ sở giáo dục và các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp khác theo quy định của pháp luật.
Định mức giờ dạy đối với giáo viên mầm non là bao nhiêu giờ một ngày?
Căn cứ vào Điều 7 Thông tư 11/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định như sau:
Định mức giờ dạy đối với giáo viên mầm non
1. Đối với giáo viên mầm non dạy các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo học 02 buổi/ngày: Giảng dạy 05 giờ 30 phút/ngày.
2. Đối với giáo viên mầm non dạy các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo học 01 buổi/ngày: Giảng dạy 04 giờ/ngày.
Như vậy, định mức giờ dạy đối với giáo viên mầm non là:
- Đối với giáo viên mầm non dạy các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo học 02 buổi/ngày: Giảng dạy 05 giờ 30 phút/ngày.
- Đối với giáo viên mầm non dạy các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo học 01 buổi/ngày: Giảng dạy 04 giờ/ngày.