Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ cấp xã có thuộc diện tinh giản biên chế?
Một trường hợp được bạn đọc đặt câu hỏi về chế độ khi nghỉ việc: người này là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp xã, sinh tháng 3.1974, có thời gian công tác 10 năm 1 tháng tính đến hết tháng 5.2026 và đang hưởng mức phụ cấp khoảng 2,2 triệu đồng/tháng.

Theo quy định tại Nghị định 33/2023/NĐ-CP, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam không thuộc nhóm cán bộ cấp xã. Tuy nhiên, căn cứ quy định về người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, tùy theo việc bố trí của địa phương và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, chức danh này có thể được xác định là người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
Đây là yếu tố quan trọng để xác định người nghỉ việc có thuộc đối tượng được hưởng chính sách tinh giản biên chế hay không.
Theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP, một trong những nhóm thuộc diện thực hiện chính sách tinh giản biên chế là người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã nghỉ ngay kể từ khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Như vậy, nếu người nghỉ việc được cơ quan có thẩm quyền xác định đúng là người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thuộc trường hợp được áp dụng chính sách tinh giản biên chế thì có thể được xem xét giải quyết chế độ theo quy định.
Cách xác định thời gian để tính trợ cấp
Một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức tiền được nhận là thời gian công tác.
Theo quy định tại Nghị định 154/2025/NĐ-CP, khi xác định thời gian để tính trợ cấp, trường hợp có tháng lẻ từ 1 tháng đến đủ 6 tháng được tính là 0,5 năm; trên 6 tháng đến dưới 12 tháng được tính tròn thành 1 năm.
Với thời gian công tác được cung cấp là 10 năm 1 tháng, thời gian tính trợ cấp được xác định là 10,5 năm.
Bên cạnh thời gian công tác, tuổi còn lại đến tuổi nghỉ hưu cũng là điều kiện cần xem xét.
Theo lộ trình tuổi nghỉ hưu quy định tại Nghị định 135/2020/NĐ-CP, lao động nữ sinh tháng 3.1974 thuộc trường hợp có tuổi nghỉ hưu theo lộ trình là 59 tuổi 4 tháng. Theo cách tính này, thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu dự kiến vào tháng 8.2033.
Do đó, nếu nghỉ việc vào thời điểm tháng 5.2026 thì người này vẫn còn trên 5 năm mới đến tuổi nghỉ hưu. Đây là căn cứ để xem xét nhóm chính sách tương ứng tại Điều 9 Nghị định 154/2025/NĐ-CP.
Các khoản trợ cấp có thể được hưởng

Trong trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền xác định thuộc diện áp dụng chính sách, người có từ đủ 5 năm công tác trở lên và còn từ đủ 5 năm trở lên đến tuổi nghỉ hưu có thể được hưởng các khoản trợ cấp theo quy định.
Với mức phụ cấp giả định 2,2 triệu đồng/tháng, cách tính cụ thể như sau:
- Thứ nhất, trợ cấp một lần.
Khoản trợ cấp này được tính bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với 60 tháng.
Cụ thể:
0,8 × 2.200.000 × 60 = 105.600.000 đồng.
Như vậy, khoản trợ cấp một lần dự kiến là 105,6 triệu đồng.
- Thứ hai, trợ cấp theo thời gian công tác.
Người đủ điều kiện được hưởng trợ cấp bằng 1,5 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác.
Với 10,5 năm công tác:
1,5 × 2.200.000 × 10,5 = 34.650.000 đồng.
Khoản này tương ứng 34,65 triệu đồng.
- Thứ ba, trợ cấp tìm việc làm.
Người nghỉ việc được hưởng khoản trợ cấp tương đương 3 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng.
Cách tính:
3 × 2.200.000 = 6.600.000 đồng.
Như vậy, khoản trợ cấp tìm việc làm dự kiến là 6,6 triệu đồng.
Tổng số tiền trợ cấp dự kiến là 146,85 triệu đồng
Nếu các dữ liệu do bạn đọc cung cấp là chính xác và trường hợp thực tế đáp ứng đầy đủ điều kiện hưởng chính sách theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP, tổng các khoản trợ cấp được tính như sau:
- Trợ cấp một lần: 105,6 triệu đồng.
- Trợ cấp theo thời gian công tác: 34,65 triệu đồng.
- Trợ cấp tìm việc làm: 6,6 triệu đồng.
Tổng cộng:
105,6 + 34,65 + 6,6 = 146,85 triệu đồng.
Ngoài các khoản trợ cấp trên, người thuộc diện áp dụng chính sách còn được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Cần lưu ý trước khi xác định số tiền thực nhận
Mức 146,85 triệu đồng trong trường hợp trên chỉ là con số tính toán dựa trên thông tin giả định gồm mức phụ cấp 2,2 triệu đồng/tháng, thời gian công tác 10 năm 1 tháng và các điều kiện được nêu.
Việc có được hưởng chính sách hay không còn phụ thuộc vào việc người nghỉ việc có được xác định là người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, có thuộc đúng đối tượng tinh giản biên chế và đáp ứng các điều kiện theo quy định hay không.
Đồng thời, mức phụ cấp làm căn cứ tính trợ cấp phải là mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng được cơ quan có thẩm quyền xác định tại thời điểm giải quyết chế độ.
Do đó, 146,85 triệu đồng không phải mức chi trả mặc định cho mọi Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ cấp xã nghỉ việc. Số tiền thực tế sẽ được xác định trong quyết định của cơ quan có thẩm quyền căn cứ hồ sơ, thời gian công tác, mức phụ cấp và các điều kiện cụ thể của từng trường hợp.
Người thuộc diện nghỉ việc nên kiểm tra kỹ quyết định bố trí chức danh, thời gian công tác, mức phụ cấp hiện hưởng và tình trạng đóng bảo hiểm xã hội trước khi làm thủ tục để bảo đảm quyền lợi của mình.