Nghỉ việc theo Nghị định 178: Cách xác định thời gian nghỉ trước tuổi và tiền lương hưởng chế độ

Quy định về thời gian và tiền lương làm căn cứ tính các chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nghỉ việc do sắp xếp tổ chức bộ máy được quy định cụ thể tại Nghị định 178/2024/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung.

Thời gian nghỉ hưu trước tuổi được tính như thế nào?

Theo quy định, thời gian nghỉ hưu trước tuổi được sử dụng để tính trợ cấp hưu trí một lần là khoảng thời gian tính từ thời điểm nghỉ hưu được ghi trong quyết định nghỉ hưu đến tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Nghị định 135/2020/NĐ-CP.

Khoảng thời gian này được tính tối đa 5 năm, tương đương 60 tháng.

Như vậy, trường hợp người lao động nghỉ hưu sớm hơn tuổi nghỉ hưu theo quy định nhưng khoảng thời gian chênh lệch vượt quá 5 năm thì phần vượt quá không được tính vào thời gian hưởng khoản trợ cấp hưu trí một lần theo chính sách này.

Cách xác định này cần được phân biệt với thời gian công tác được dùng để tính trợ cấp thôi việc, bởi hai loại thời gian có căn cứ và giới hạn khác nhau.

can-bo-cong-chuc-1789105300.jpg

Thời gian tính trợ cấp thôi việc dựa trên đâu?

Đối với trợ cấp thôi việc, thời gian làm căn cứ tính hưởng là thời gian công tác có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại các cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi được quy định.

Nếu thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 5 năm trở lên, thời gian tính trợ cấp thôi việc được xác định tối đa 5 năm, tương ứng 60 tháng.

Trong trường hợp thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc dưới 5 năm, toàn bộ khoảng thời gian này được sử dụng để tính trợ cấp.

Đáng chú ý, không phải toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội đều mặc nhiên được đưa vào phép tính. Theo quy định, thời gian làm căn cứ hưởng trợ cấp là tổng thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo sổ bảo hiểm xã hội nhưng chưa từng được sử dụng để hưởng các khoản như trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội một lần hoặc chế độ phục viên, xuất ngũ.

Quy định này nhằm tránh việc một khoảng thời gian công tác được sử dụng để tính hưởng chính sách nhiều lần.

Tháng lẻ được quy đổi ra sao?

Một vấn đề khác cần lưu ý là cách xử lý số tháng lẻ khi xác định thời gian hưởng trợ cấp.

Nếu tổng thời gian làm căn cứ tính trợ cấp có tháng lẻ, thời gian này được quy đổi theo nguyên tắc:

Từ 1 tháng đến đủ 6 tháng được tính bằng 0,5 năm.

Từ trên 6 tháng đến dưới 12 tháng được tính tròn thành 1 năm.

Nguyên tắc tương tự được áp dụng khi xác định thời gian nghỉ hưu trước tuổi để tính chính sách theo Nghị định 178.

Do đó, việc tính toán số tháng nghỉ hưu trước tuổi hoặc thời gian công tác có tháng lẻ cần được thực hiện thống nhất, tránh tình trạng làm tròn không đúng dẫn tới chênh lệch số tiền chế độ.

Ngày nào được dùng để xác định tuổi nghỉ hưu?

Thời điểm xác định tuổi đời để giải quyết chính sách, chế độ nghỉ việc cũng được quy định cụ thể.

Theo đó, tuổi của người nghỉ việc được tính đến ngày 1 của tháng liền kề sau tháng sinh.

Trường hợp hồ sơ không thể hiện cụ thể ngày, tháng sinh mà chỉ xác định được năm sinh thì lấy ngày 1/1 của năm sinh làm căn cứ.

Quy định này giúp cơ quan giải quyết chế độ có một mốc thời gian thống nhất khi xác định người nghỉ việc đã đủ tuổi hay còn bao nhiêu thời gian đến tuổi nghỉ hưu theo quy định.

1789105396365-1870493767235431998-8813458017045788548-72fcebbc5a7deffa5241cb7953cc046d-1789105414.jpg

Tiền lương tháng hiện hưởng được tính thế nào?

Tiền lương tháng hiện hưởng là một trong những căn cứ quan trọng để xác định mức hưởng của nhiều chính sách theo Nghị định 178.

Theo quy định được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 67/2025/NĐ-CP, tiền lương tháng hiện hưởng được xác định là tiền lương của tháng liền kề trước thời điểm nghỉ việc.

Khoản tiền này bao gồm mức lương theo ngạch, bậc, cấp bậc hàm, chức vụ, chức danh hoặc chức danh nghề nghiệp. Với người lao động hưởng lương theo hợp đồng lao động, căn cứ là mức lương thỏa thuận được ghi trong hợp đồng.

Ngoài tiền lương chính, tiền lương tháng hiện hưởng còn bao gồm các khoản phụ cấp lương và hệ số chênh lệch bảo lưu lương, nếu có và thuộc trường hợp được pháp luật về tiền lương quy định.

Các khoản phụ cấp được tính gồm phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp trách nhiệm theo nghề, phụ cấp công vụ, phụ cấp công tác Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội và phụ cấp đặc thù đối với lực lượng vũ trang.

Theo số liệu được công bố, đến đầu tháng 12/2025, cả nước có 146.839 người đã có quyết định nghỉ việc theo chính sách, gồm 47.913 người ở Trung ương và 98.926 người tại địa phương.

Việc rà soát nhằm bảo đảm chính sách được thực hiện đúng đối tượng, đúng thời gian, đúng căn cứ tiền lương và hạn chế tình trạng chi thiếu hoặc chi vượt chế độ.

Đối với người thuộc diện áp dụng, việc đối chiếu quyết định nghỉ việc, quyết định nghỉ hưu, sổ bảo hiểm xã hội và tiền lương tháng liền kề trước khi nghỉ là những căn cứ quan trọng để kiểm tra việc tính hưởng chính sách.

Mai Ngọc (t/h)