Tổng hợp các mức tiền trẻ em được nhận từ 05/10/2026 theo mức mới ứng với hệ số tại Nghị định 335, cụ thể ra sao?
Theo Thư viện pháp luật, căn cứ các quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 05/10/2026) thì trẻ em dưới 16 tuổi được nhận từ 810.000 đồng/tháng đến 1.350.000 đồng/tháng (ứng với hệ số 1,5 tới 2,5 và mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng) khi:
- Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo (điểm b khoản 1 Điều 6 và khoản 3 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP) hưởng 1.080.000 đồng/tháng nếu từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi; hưởng 1.350.000 đồng/tháng nếu dưới 04 tuổi
- Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hưởng 1.350.000 đồng/tháng; trẻ em khuyết tật nặng hưởng 1.080.000 đồng/tháng (điểm e khoản 1 Điều 6 và khoản 6 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP)

- Trẻ em dưới 04 tuổi hưởng 1.350.000 đồng/tháng; từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi hưởng 810.000 đồng/tháng thuộc các trường hợp sau:
+ Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;
+ Trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được;
+ Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
+ Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
+ Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+ Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;
+ Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
+ Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+ Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội;
+ Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+ Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Hỗ trợ giáo dục, đào tạo và hướng nghiệp tạo việc làm cho trẻ em tại cơ sở trợ giúp xã hội như thế nào?
Theo Điều 23 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, đối tượng quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 21 Nghị định 335/2026/NĐ-CP được hưởng chế độ, chính sách hỗ trợ giáo dục mầm non, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và hướng nghiệp tạo việc làm theo quy định như sau:
- Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội được hưởng chính sách hỗ trợ học giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất theo quy định của pháp luật.
- Từ đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.
Trường hợp không tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học thì đối tượng được hỗ trợ hoà nhập cộng đồng, đưa trở về nơi ở trước khi vào cơ sở trợ giúp xã hội. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ở trước đây của đối tượng có trách nhiệm tiếp nhận, tạo điều kiện hỗ trợ việc làm, ổn định cuộc sống.
Trẻ em khuyết tật nặng và đặc biệt nặng được xác định thế nào?
Điều 3 Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định trẻ em khuyết tật nặng và đặc biệt nặng được xác định như sau:
- Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
- Trẻ em khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.