Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội.
Tại Điều 31, Nghị định này đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 176/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về trợ cấp hưu trí xã hội, trong đó có quy định về chi phí mai táng khi người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội qua đời.
Theo quy định mới, trường hợp người đang nhận trợ cấp hưu trí xã hội qua đời sẽ được Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí mai táng. Mức hỗ trợ tối thiểu được xác định bằng 20 lần mức trợ cấp hưu trí xã hội, tương đương 20 x 540.000 đồng = 10.800.000 đồng.
Nhiều bạn đọc thắc mắc vì sao số tiền trợ cấp mai táng chỉ là 10.800.000 đồng trong khi thân nhân người hưởng lương hưu qua đời được nhận trợ cấp mai táng đến 25.300.000 đồng?
Thực tế, chế độ mai táng phí đối với người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội khác với người đang hưởng lương hưu.

Người hưởng lương hưu là người đã tham gia bảo hiểm xã hội đủ thời gian theo quy định để được giải quyết chế độ hưu trí và nhận lương hưu định kỳ sau khi đạt độ tuổi nghỉ hưu.
Khi người đang hưởng lương hưu qua đời, thân nhân có thể được giải quyết chế độ tử tuất theo quy định, gồm trợ cấp tuất hàng tháng hoặc trợ cấp tuất một lần, cùng với trợ cấp mai táng.
Theo Luật Bảo hiểm xã hội, mai táng phí được tính bằng 10 lần mức lương cơ sở, tức là 25.300.000 đồng (10 lần mức 2.530.000 đồng).
Khoản trợ cấp này được chi trả từ Quỹ Hưu trí và Tử tuất, Quỹ này được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm xã hội của người lao động và người sử dụng lao động.
Với người đang nhận trợ cấp hưu trí xã hội, khi qua đời, cá nhân hoặc tổ chức đứng ra lo việc mai táng cũng có thể được giải quyết khoản hỗ trợ mai táng. Tuy nhiên, mức và điều kiện hưởng khoản này không giống với chế độ mai táng dành cho người đang hưởng lương hưu.
Theo Nghị định số 176/2025/NĐ-CP, người thuộc diện được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội phải đáp ứng 3 điều kiện: là công dân Việt Nam từ đủ 75 tuổi trở lên; không đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc đang hưởng các khoản này nhưng thấp hơn mức trợ cấp hưu trí xã hội; đồng thời có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.

Trường hợp công dân Việt Nam thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên thì có thể được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi.
Mức trợ cấp hưu trí xã hội cũng như khoản hỗ trợ chi phí mai táng được xác định căn cứ vào mức chuẩn trợ giúp xã hội. Từ ngày 5/10, mức chuẩn này được áp dụng là 540.000 đồng/tháng, góp phần tăng cường chính sách an sinh dành cho người cao tuổi.
Đối với người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, mức hỗ trợ chi phí mai táng tối thiểu bằng 20 lần mức trợ cấp hưu trí xã hội. Theo mức chuẩn mới từ ngày 5/10, khoản hỗ trợ này tương ứng 20 x 540.000 đồng = 10.800.000 đồng.
Điều 6 Nghị định số 176/2025/NĐ-CP cũng quy định kinh phí thực hiện chính sách trợ cấp hưu trí xã hội, từ khâu lập dự toán, phân bổ, chấp hành đến quyết toán, phải tuân thủ quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Như vậy, các chế độ thuộc chính sách trợ cấp hưu trí xã hội, bao gồm cả khoản hỗ trợ chi phí mai táng, được bảo đảm và chi trả từ ngân sách nhà nước.