Người lao động cao tuổi có được trả thêm tiền khi không tham gia bảo hiểm xã hội hay không?
Theo Thư viện pháp luật, người lao động cao tuổi được trả thêm tiền vào kỳ trả lương hàng tháng nếu họ đang hưởng lương hưu và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.
Cụ thể như sau:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động 2019 đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội thì người sử dụng lao động phải chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 người đang hưởng lương hưu thì không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.

Như vậy, đối với người lao động cao tuổi:
- Đã hưởng lương hưu: Sẽ nhận thêm tiền tương đương mức đóng BHXH của người sử dụng lao động.
- Chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu: Không được nhận tiền bù mà vẫn phải tham gia và đóng BHXH bắt buộc theo quy định pháp luật.
Tiền trả cho người lao động cao tuổi tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì có phải chịu thuế thu nhập cá nhân không?
Tiền do người sử dụng lao động chi trả thêm cho người lao động cao tuổi (đang hưởng lương hưu) tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc phải chịu thuế thu nhập cá nhân.
Cụ thể như sau:
Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế thu nhập cá nhân bao gồm: Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới mọi hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.
Do đó, trường hợp công ty chi trả thêm cho người lao động cao tuổi (không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc) cùng lúc với kỳ lương một khoản tiền được xác định là các khoản lợi ích bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công mà người lao động được hưởng thì phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.

Người lao động cao tuổi có được rút ngắn thời giờ làm việc?
Tại khoản 2 Điều 166 Bộ luật Lao động 2012 ghi nhận:
Người lao động cao tuổi
1. Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.
2. Người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.
3. Năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu, người lao động được rút ngắn thời giờ làm việc bình thường hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.
Theo đó, người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.
Trong khi đó, khoản 2 Điều 148 Bộ luật Lao động 2019 quy định:
Người lao động cao tuổi
1. Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật này.
2. Người lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.
3. Nhà nước khuyến khích sử dụng người lao động cao tuổi làm việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm quyền lao động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
Theo quy định trên, người lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.