Trong danh sách 18 loài cây không được trồng theo Quyết định 143/2026/QĐ-UBND của Hà Nội, bông gòn đứng ở vị trí thứ sáu. Loài cây này bị hạn chế trồng do cành dễ gãy, trong khi quả khi chín bung vỏ, phát tán những sợi trắng có thể gây ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường đô thị.
Đặc điểm nhận biết cây bông gòn
Theo Tiến sĩ Ngô Đức Phương, Viện trưởng Viện Khoa học Thuốc Nam chia sẻ trên Vietnamnet bông gòn có tên khoa học là Ceiba pentandra (L.) Gaertn., thuộc họ Bông (Malvaceae). Trước đây, loài cây này thường được phân loại trong họ Gạo (Bombacaceae).
Bông gòn thuộc nhóm cây thân gỗ lớn, có thân mọc thẳng, chiều cao phổ biến khoảng 20-30m, thậm chí phát triển cao hơn nếu điều kiện sinh trưởng thuận lợi. Ở giai đoạn còn non, thân cây đôi khi xuất hiện các gai hình nón. Khi cây trưởng thành, những chiếc gai này thường thưa dần.

Lá bông gòn có dạng kép chân vịt, gồm khoảng 5-9 lá chét cùng mọc từ một điểm và xòe ra xung quanh. Hoa có kích thước tương đối nhỏ, thường mang màu trắng ngà hoặc vàng nhạt. Cây có đặc tính rụng lá theo mùa, hoa thường nở vào thời điểm tán cây không còn quá nhiều lá.
Dấu hiệu dễ nhận biết nhất của bông gòn là quả. Quả có hình nang thuôn dài, khi chín sẽ tự nứt, để lộ nhiều hạt màu nâu sẫm hoặc đen nằm giữa lớp sợi trắng mềm, nhẹ và xốp.
Tiến sĩ Phương giải thích, lớp sợi này đóng vai trò như một phương tiện giúp hạt phát tán nhờ gió. Đây là cơ chế tự nhiên hỗ trợ cây sinh sản, duy trì và mở rộng phạm vi phân bố.
Không chỉ có chức năng sinh học, phần sợi trắng bên trong quả bông gòn còn được con người tận dụng từ lâu. Tại nhiều quốc gia có khí hậu nhiệt đới, loại sợi này được thu gom để làm ruột gối, đệm, thú nhồi bông và các sản phẩm cần vật liệu có trọng lượng nhẹ, độ xốp cao.
Nhờ đặc tính nhẹ, có khả năng nổi trên mặt nước và tương đối khó thấm nước, sợi bông gòn từng được sử dụng làm vật liệu tạo độ nổi cho một số loại áo phao, thiết bị cứu sinh, trước khi vật liệu tổng hợp trở nên phổ biến.
Tuy nhiên, loại sợi này có cấu trúc khá ngắn, trơn nên không thuận lợi cho việc kéo thành sợi dệt bền như bông vải thông thường.
Vỏ thân, lá và rễ bông gòn trong y học dân gian
Bên cạnh giá trị khai thác sợi, cây bông gòn còn xuất hiện trong một số hệ thống y học cổ truyền ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Theo Tiến sĩ Ngô Đức Phương, các bộ phận như vỏ thân, lá và rễ từng được người dân sử dụng dựa trên kinh nghiệm dân gian.
Trong đó, nước nấu từ thân cây được dùng với mục đích hỗ trợ lợi tiểu; phần mủ tiết ra khi thân cây bị tổn thương được sử dụng theo kinh nghiệm để giải khát, thanh nhiệt, giải độc, hỗ trợ giảm táo bón và điều hòa lượng đường trong máu.
Một số nghiên cứu hiện đại cũng đã bước đầu tìm hiểu thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học của các dịch chiết từ cây bông gòn. Dù vậy, Tiến sĩ Phương nhấn mạnh, những kinh nghiệm sử dụng trong dân gian hoặc kết quả thu được từ các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm chưa thể thay thế bằng chứng lâm sàng để khẳng định tác dụng điều trị bệnh trên người.
Vì vậy, việc bông gòn từng được khai thác làm nguyên liệu hoặc xuất hiện trong các bài thuốc truyền thống không đồng nghĩa người dân có thể tùy tiện thu hái vỏ, lá, rễ hay mủ cây để sử dụng. Việc dùng các bộ phận của cây với mục đích chữa bệnh cần có hướng dẫn chuyên môn, tránh tự ý áp dụng theo kinh nghiệm truyền miệng.