Nghị định 161/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và một số nhóm đối tượng hưởng lương từ ngân sách. Đáng chú ý, quỹ tiền thưởng hằng năm được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương, không bao gồm phụ cấp.
Hàng loạt cán bộ, công chức, viên chức được áp dụng chế độ thưởng mới, quỹ thưởng bằng 10% quỹ lương

Một trong những nội dung được nhiều cán bộ, công chức, viên chức quan tâm khi Nghị định 161/2026/NĐ-CP được áp dụng là cách xác định và chi tiền thưởng.
- 4 nhóm cán bộ, giáo viên mầm non được nhận 960.000 đồng/tháng theo Nghị định 277
- Khởi tố nhóm cán bộ y tế lập khống hồ sơ bệnh nhân chiếm đoạt thuốc bảo hiểm y tế
- Từ nay đến 31/12/2027: Cán bộ, công chức, viên chức nhận thêm tiền 1.600.000 đồng/tháng cùng với người lao động hưởng lương từ ngân sách địa phương theo Nghị quyết 29, cụ thể ra sao?
Theo quy định, chế độ tiền thưởng được thực hiện dựa trên thành tích công tác đột xuất và kết quả theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm của người hưởng lương.
Nguồn kinh phí thực hiện được bố trí từ quỹ tiền thưởng hằng năm của cơ quan, đơn vị. Quỹ này được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương, không bao gồm các khoản phụ cấp, tính theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và cấp bậc quân hàm của những người có tên trong danh sách trả lương.
Điểm cần lưu ý là tỷ lệ 10% nói trên là căn cứ xác định quỹ tiền thưởng của cơ quan, đơn vị, không phải mức tiền thưởng cố định mà mỗi cá nhân đương nhiên được nhận.
Mức thưởng cụ thể của từng người sẽ phụ thuộc vào thành tích, kết quả đánh giá và quy chế tiền thưởng được cơ quan, đơn vị ban hành.
Tiền thưởng được chia thành những khoản nào?
Theo quy định mới, chế độ tiền thưởng gồm hai hình thức chính.
Thứ nhất là thưởng đột xuất.
Khoản thưởng này được áp dụng đối với cá nhân có thành tích công tác nổi bật, đột xuất theo tiêu chí được quy định trong quy chế tiền thưởng của cơ quan, đơn vị.
Thứ hai là thưởng định kỳ hằng năm.
Khoản thưởng này được xem xét dựa trên kết quả theo dõi, đánh giá hằng quý, 6 tháng và kết quả xếp loại chất lượng hằng năm của từng người.
Như vậy, việc một cá nhân được nhận tiền thưởng và mức thưởng bao nhiêu không chỉ dựa vào hệ số lương mà còn phụ thuộc vào kết quả thực hiện nhiệm vụ và tiêu chí thưởng của từng cơ quan, đơn vị.

Ai thuộc diện được áp dụng chế độ tiền thưởng?
Chính sách tiền thưởng theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP được áp dụng đối với nhiều nhóm đang hưởng lương thuộc phạm vi quy định.
Các nhóm đáng chú ý gồm:
- Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
- Viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật Viên chức năm 2025.
- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận xếp lương theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.
- Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động.
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân.
- Người làm việc trong tổ chức cơ yếu.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ đối tượng hưởng lương theo quy định với người hưởng phụ cấp hoặc sinh hoạt phí. Các đối tượng hưởng phụ cấp, sinh hoạt phí không thuộc nhóm người hưởng lương được áp dụng chế độ tiền thưởng theo quy định này.
Cơ quan phải xây dựng quy chế tiền thưởng riêng
Để việc chi thưởng có căn cứ và bảo đảm công khai, Nghị định yêu cầu cơ quan, đơn vị phải xây dựng và ban hành Quy chế tiền thưởng.
Quy chế do người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức hoặc người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng, ban hành. Đối với lực lượng vũ trang, việc xây dựng quy chế thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Quy chế tiền thưởng phải xác định rõ phạm vi, đối tượng áp dụng; tiêu chí xét thưởng; mức tiền thưởng trong từng trường hợp; quy trình, thủ tục xét thưởng và các nội dung cần thiết khác phục vụ công tác quản lý.
Đặc biệt, mức tiền thưởng không nhất thiết phải gắn với hệ số lương của từng người.
Điều này có nghĩa người có hệ số lương cao không mặc nhiên được nhận mức thưởng cao hơn người có hệ số lương thấp. Mức chi cụ thể phải căn cứ vào tiêu chí và quy chế thưởng của từng cơ quan, đơn vị.
Quy chế tiền thưởng phải được công khai

Sau khi ban hành, quy chế tiền thưởng phải được gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để quản lý, kiểm tra.
Đồng thời, quy chế phải được công khai trong cơ quan, đơn vị để người hưởng lương biết rõ tiêu chí, điều kiện và cách thức xét thưởng.
Quy định này nhằm tăng tính minh bạch trong quá trình phân bổ quỹ thưởng, hạn chế tình trạng người lao động không biết căn cứ nào được sử dụng để xác định mức tiền thưởng của mình.
Quỹ thưởng không dùng hết sẽ xử lý thế nào?
Một vấn đề khác cũng được nhiều người quan tâm là trường hợp cơ quan, đơn vị còn dư quỹ tiền thưởng vào cuối năm.
Theo quy định, đến hết năm ngân sách, bao gồm cả thời gian chỉnh lý quyết toán, nếu quỹ tiền thưởng của năm chưa được sử dụng hết thì phần dư không được tiếp tục giữ lại để chi tùy ý cho năm sau.
Cụ thể, nếu còn dư dự toán thì thực hiện hủy dự toán; trường hợp còn dư tạm ứng thì thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
Do đó, cơ quan, đơn vị cần chủ động thực hiện việc xét thưởng, chi thưởng theo đúng quy chế và thời hạn ngân sách.