6 trường hợp công chức không được bổ nhiệm làm lãnh đạo, quản lý
Theo Thư viện pháp luật: Tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được quy định tại Điều 29 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP (quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức).
Trong đó, các trường hợp không bổ nhiệm công chức giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý được quy định tại Khoản 7 Điều 29 Nghị định 170/2025 với 4 nội dung: “Không thuộc các trường hợp bị cấm đảm nhiệm chức vụ; không đang trong thời hạn xử lý kỷ luật; không đang trong thời gian bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; không đang trong thời gian thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật theo quy định của Đảng và của pháp luật”.
Ngày 29/7, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 300/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 170/2025. Nghị định 300/2026 sửa đổi hoàn toàn Điều 29 Nghị định 170/2025.
Theo đó, các trường hợp không bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được quy định lại tại Khoản 9 Điều 29 Nghị định 170/2025.

Cụ thể, điều kiện để bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý là không thuộc một trong sáu trường hợp sau đây:
Thứ nhất, bị cấm đảm nhiệm chức vụ theo quy định của Đảng và của pháp luật.
Thứ hai, đang trong thời hạn xử lý kỷ luật.
Thứ ba, đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật theo quy định của cấp có thẩm quyền.
Thứ tư, đang trong thời gian giải quyết tố cáo (đã có quyết định thành lập đoàn giải quyết tố cáo), giải quyết khiếu nại kỷ luật, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc đang bị kiến nghị xử lý vi phạm theo kết luận thanh tra, kiểm toán; đang bị tạm đình chỉ công tác.
Thứ năm, đang bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Thứ sáu, thuộc trường hợp khác chưa xem xét bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Trong 6 trường hợp trên, trường hợp thứ tư và thứ sáu là mới bổ sung so với quy định cũ.
Căn cứ cho từ chức đối với công chức lãnh đạo, quản lý theo quy định mới nhất ra sao?
Theo khoản 2 Điều 52 Nghị định 170/2025/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 300/2026/NĐ-CP ) quy định công chức lãnh đạo, quản lý tự nguyện xin từ chức và được xem xét cho từ chức khi có một trong các căn cứ sau:
(1) Do bản thân nhận thấy hạn chế về năng lực lãnh đạo, quản lý hoặc không còn đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao;
(2) Có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định;
(3) Vì lý do chính đáng khác của cá nhân;
(4) Là người đứng đầu để cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách trực tiếp hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng nhưng chưa đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định;
(5) Trong thời hạn giữ chức vụ có 02 năm không liên tiếp bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ;

(6) Có hành vi vi phạm về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến uy tín tổ chức, cá nhân;
(7) Để người thân (vợ, chồng, con) vi phạm pháp luật của Nhà nước; sa vào tệ nạn xã hội và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, tổ chức, đơn vị;
(8) Để người khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn của bản thân để trục lợi và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây hậu quả nghiêm trọng, bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín cá nhân và tổ chức, trừ trường hợp bản thân không biết;
(9) Không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây hậu quả rất nghiêm trọng, dư luận xấu, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân;
(10) Các trường hợp khác theo quy định của Đảng hoặc quy định của pháp luật.
Lưu ý: Đối với trường hợp quy định tại điểm (2), nếu công chức không có đơn từ chức thì cơ quan có thẩm quyền xem xét cho thôi giữ chức vụ; đối với các trường hợp quy định tại các điểm (4), (5), (6), (7), (8) và điểm (9), nếu không tự nguyện từ chức thì cơ quan có thẩm quyền xem xét miễn nhiệm theo quy định tại Điều 53 Nghị định 170/2025/NĐ-CP.