Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 10 năm 2026.
Căn cứ Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP thì:
Người chưa có vợ/chồng thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và đang nuôi con dưới 16 tuổi (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo nuôi con).
Trường hợp người đơn thân nghèo nuôi con đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định, nhưng người con đó đủ 16 tuổi và đang tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì người đơn thân nghèo nuôi con tiếp tục được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng cho đến khi người con kết thúc học.
Mức hưởng 1,0 mức chuẩn trợ giúp xã hội tức 540.000 đồng/con.

Căn cứ Điều 4 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác (sau đây gọi chung là cơ sở trợ giúp xã hội) và các mức trợ giúp xã hội khác.
Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định:
- Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này;
- Đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.