
Dưới đây là 4 chính sách giáo dục nổi đáng chú ý có hiệu lực từ ngày 15/4/2026, được Thư viện pháp luật cập nhật:
1. Bỏ bằng tốt nghiệp cấp 2 ra khỏi hệ thống giáo dục quốc dân
Ngày 26/02/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT về Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, có hiệu lực từ ngày 15/4/2026.
Cụ thể, văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học khi tốt nghiệp trung học phổ thông; người học hoàn thành chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo quy định.
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm:
- Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng cao đẳng;
- Bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ;
- Văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù.
Văn bằng chương trình đào tạo chuyên sâu bao gồm:
- Bằng kỹ sư, bằng kiến trúc sư đối với các ngành kỹ thuật;
- Bằng bác sĩ, bằng dược sĩ đối với lĩnh vực sức khỏe;
- Một số văn bằng khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp cho người tốt nghiệp chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù.
Như vậy, theo quy định mới thì bằng tốt nghiệp THCS sẽ không còn nằm trong hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân.
2. Thủ tục cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc
Ngày 31/3/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định 754/QĐ-BGDĐT về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành; thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ lĩnh vực văn bằng, chứng chỉ thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hiệu lực từ ngày 15/4/2026.
Cụ thể, trình tự thực hiện cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc được quy định như sau:
- Người đề nghị cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ cung cấp thông tin trên cổng dịch vụ công trực tuyến hoặc nộp trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính 01 (một) bộ hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc;
- Ngay trong ngày tiếp nhận yêu cầu cấp bản sao hoặc trong ngày làm việc tiếp theo, nếu tiếp nhận yêu cầu sau 03 (ba) giờ chiều, cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc phải cấp bản sao cho người có yêu cầu. Trong trường hợp yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc được gửi qua dịch vụ bưu chính thì thời hạn được xác định từ thời điểm cơ quan tiếp nhận yêu cầu cấp bản sao nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo dấu bưu điện đến;
- Đối với trường hợp cùng một lúc yêu cầu cấp bản sao từ nhiều sổ gốc, yêu cầu số lượng nhiều bản sao, nội dung văn bằng, chứng chỉ phức tạp khó kiểm tra, đối chiếu mà cơ quan tiếp nhận yêu cầu cấp bản sao không thể đáp ứng được thời hạn quy định tại điểm b khoản 5 Điều 17 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT thì thời hạn cấp bản sao được kéo dài thêm không quá 02 (hai) ngày làm việc hoặc dài hơn theo thỏa thuận bằng văn bản với người yêu cầu cấp bản sao.
- Trường hợp không còn lưu trữ được sổ gốc hoặc trong sổ gốc không có thông tin về nội dung yêu cầu cấp bản sao hoặc lý do khác không cấp bản sao cho người yêu cầu thì cơ quan tiếp nhận yêu cầu cấp bản sao có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho người yêu cầu và nêu rõ lý do theo thời hạn quy định tại điểm c khoản 5 Điều 17 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT.
- Ngay sau khi cấp bản sao từ sổ gốc, nếu thông tin về văn bằng, chứng chỉ chưa có trong cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ, cơ quan quản lý sổ gốc phải cập nhật ngay thông tin văn bằng, chứng chỉ đó vào cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ.
- Thông tin tra cứu từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ hoặc hiển thị trên ứng dụng VNeID được sử dụng thay cho bản sao văn bằng, chứng chỉ từ sổ gốc và có giá trị xác minh văn bằng, chứng chỉ thay cho việc cơ quan quản lý sổ gốc xác minh văn bằng, chứng chỉ bằng văn bản.
3. Tiêu chuẩn đơn vị tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ và tiếng Việt
Ngày 26/02/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 09/2026/TT-BGDĐT quy định về tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ và tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt, có hiệu lực từ ngày 15/4/2026.
Theo đó, đơn vị tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ, tiếng Việt phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng, minh bạch, an ninh an toàn và chất lượng của kỳ thi.
Tiêu chuẩn của đơn vị tổ chức thi được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.
Các tiêu chuẩn quy định trên được áp dụng làm căn cứ để đơn vị tổ chức thi tự đánh giá năng lực tổ chức thi và để cơ quan có thẩm quyền thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm theo quy định của pháp luật. Tùy theo mức độ vi phạm của đơn vị tổ chức thi, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ xem xét dừng việc tổ chức thi của các đơn vị hoặc tạm dừng cho đến khi bảo đảm đủ các tiêu chuẩn, tiêu chí và các yêu cầu liên quan theo quy định này.
4. Quy trình tổ chức đánh giá diện rộng cấp quốc gia chất lượng giáo dục phổ thông
Ngày 26/02/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 08/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy định về đánh giá diện rộng cấp quốc gia chất lượng giáo dục phổ thông, có hiệu lực từ ngày 15/4/2026.
Theo đó, quy trình tổ chức đánh giá diện rộng cấp quốc gia chất lượng giáo dục phổ thông được quy định như sau:
- Giai đoạn chuẩn bị: Xây dựng bộ công cụ khảo sát đối với các chương trình đánh giá diện rộng quốc gia; xây dựng tài liệu hướng dẫn tổ chức triển khai khảo sát; tổ chức tập huấn cho những người tham gia đánh giá; xây dựng cơ sở dữ liệu mẫu; chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khảo sát.
- Khảo sát thử nghiệm: Chọn mẫu khảo sát; tập huấn quy trình, kỹ thuật khảo sát; triển khai khảo sát; chấm bài/mã hóa, nhập và chuẩn hóa dữ liệu khảo sát; phân tích, xử lý kết quả khảo sát; rà soát, thẩm định, điều chỉnh câu hỏi và hoàn thiện các bộ công cụ phục vụ khảo sát chính thức.
- Khảo sát chính thức: Chọn mẫu khảo sát; tập huấn quy trình, kỹ thuật khảo sát, triển khai khảo sát; chấm bài/mã hóa, nhập và chuẩn hóa dữ liệu khảo sát.
- Báo cáo phân tích kết quả: Phân tích, xử lý dữ liệu kết quả khảo sát; xây dựng, lấy ý kiến và hoàn thiện báo cáo kết quả theo mục đích, yêu cầu của Chương trình đánh giá diện rộng quốc gia; công bố kết quả và sử dụng kết quả đánh giá diện rộng quốc gia để cải thiện chất lượng giáo dục.
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố sửa đổi một số điều của Thông tư 29 quy định về dạy thêm, học thêm. Nhà trường phải có đường dây nóng trên trang thông tin điện tử của nhà trường hoặc niêm yết tại nhà trường để tiếp nhận, xử lý các kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm trái quy định, theo báo Bảo vệ pháp luật.
Theo đó, Bộ sửa đổi điểm c khoản 4 của Điều 5 về thời lượng dạy thêm tối đa trong trường vẫn là 2 tiết/tuần/môn. Trường hợp học sinh thuộc đối tượng đăng ký học thêm theo quy định có nhu cầu học vượt quá 2 tiết/tuần thì Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh thời lượng tổ chức dạy thêm theo đề nghị của hiệu trưởng.
Bãi bỏ các Điều 10 và Điều 11 quy định về Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện và trách nhiệm của Phòng Giáo dục và Đào tạo.
Bộ cũng sửa đổi khoản 1 của Điều 2. Theo đó, dạy thêm, học thêm là hoạt động dạy học ngoài thời lượng quy định trong kế hoạch giáo dục đối với các môn học, hoạt động giáo dục. Các hoạt động giáo dục về văn hóa, nghệ thuật, thể thao, ngoại ngữ, STEM, STEAM, năng lực số, trí tuệ nhân tạo, hướng nghiệp, kỹ năng sống không bị coi là dạy thêm, học thêm và không thuộc diện điều chỉnh của Thông tư.
Thông tư này cũng quy định rõ các xã, phường và trường học phải công khai số điện thoại đường dây nóng trên website hoặc niêm yết tại trụ sở, để tiếp nhận, xử lý các kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn quản lý.
Đối với nhà trường phải thiết lập và công khai số điện thoại đường dây nóng trên trang thông tin điện tử của nhà trường hoặc niêm yết tại nhà trường để tiếp nhận, xử lí các kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm trái quy định của giáo viên đang dạy học tại nhà trường; chịu trách nhiệm tổ chức thông tin, hướng dẫn giáo viên thực hiện quy định về dạy thêm, học thêm; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, xử lí theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lí vi phạm; chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lí cấp trên nếu để xảy ra tình trạng vi phạm quy định về dạy thêm, học thêm kéo dài, phức tạp trong phạm vi quản lí.
Đối với giáo viên đang dạy học tại các trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm tuân thủ quy tắc ứng xử của nhà giáo theo quy định, có trách nhiệm báo cáo với Hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng ký kinh doanh cơ sở dạy thêm, thời gian tham gia dạy thêm trước khi bắt đầu và cập nhật kịp thời khi có thay đổi đối với các nội dung đã báo cáo, bảo đảm minh bạch, phòng ngừa xung đột lợi ích trong hoạt động dạy thêm.