Người không có lương hưu có phải đều được nhận trợ cấp 810.000 đồng/tháng? Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm khi chính sách trợ giúp xã hội có sự điều chỉnh về mức chuẩn. Theo quy định mới, khoản trợ cấp 810.000 đồng/tháng chỉ áp dụng cho nhóm đối tượng đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định, không phải tất cả người không có lương hưu đều được hưởng.
Ai được nhận trợ cấp 810.000 đồng mỗi tháng?
Theo quy định tại Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mức chuẩn trợ giúp xã hội được điều chỉnh lên 540.000 đồng/tháng từ ngày 5/10/2026, thay cho mức chuẩn 500.000 đồng/tháng trước đó.
Mức chuẩn này là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội hằng tháng đối với các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội theo hệ số tương ứng.
Trong số các nhóm được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng có người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

Như vậy, để được hưởng mức trợ cấp 810.000 đồng/tháng, người dân không chỉ đáp ứng điều kiện không có lương hưu. Người đề nghị hưởng phải đồng thời đáp ứng các yêu cầu gồm:
- Là người nhiễm HIV/AIDS;
- Thuộc diện hộ nghèo;
- Không có tiền lương hoặc tiền công;
- Không hưởng lương hưu;
- Không nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.
Điều này đồng nghĩa với việc người không có lương hưu nhưng không thuộc các nhóm điều kiện nêu trên sẽ không đương nhiên được nhận trợ cấp 810.000 đồng/tháng.
Vì sao mức trợ cấp là 810.000 đồng/tháng?
Mức trợ cấp được xác định dựa trên mức chuẩn trợ giúp xã hội và hệ số áp dụng đối với từng nhóm đối tượng.
Đối với người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hệ số trợ cấp được áp dụng là 1,5.
Với mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng, số tiền được tính như sau:
540.000 đồng × 1,5 = 810.000 đồng/tháng.
Như vậy, mức 810.000 đồng/tháng không phải là một khoản trợ cấp cố định áp dụng chung cho tất cả những người không có lương hưu. Đây là kết quả tính toán từ mức chuẩn trợ giúp xã hội và hệ số dành cho một nhóm đối tượng cụ thể.
Trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều nhóm đối tượng bảo trợ xã hội với các hệ số khác nhau, việc xác định mức hưởng được thực hiện theo nguyên tắc áp dụng mức cao nhất theo quy định.

Mẫu hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp
Người thuộc diện đủ điều kiện có thể sử dụng Mẫu số 01 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP để đề nghị hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Tờ khai có thể được thực hiện theo hình thức trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, gửi qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực tiếp tại Bộ phận Một cửa theo quy định.
Đối với hồ sơ được thực hiện trực tuyến, một số thông tin của người đề nghị có thể được hệ thống tự động điền từ các cơ sở dữ liệu có liên quan như Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, cơ sở dữ liệu về bảo hiểm và các hệ thống thông tin liên quan.
Nếu thông tin chưa có trong cơ sở dữ liệu, người đề nghị cần bổ sung, kê khai đầy đủ theo yêu cầu.
Thủ tục nhận trợ cấp 810.000 đồng/tháng
Theo quy định, người đủ điều kiện hoặc người giám hộ có thể nộp tờ khai đề nghị trợ cấp xã hội theo mẫu quy định.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Chủ tịch UBND cấp xã nơi người đề nghị cư trú tổ chức xác thực thông tin, kiểm tra dữ liệu và thẩm định điều kiện hưởng.
Thời hạn giải quyết được quy định là 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ. Nếu đủ điều kiện, Chủ tịch UBND cấp xã ban hành quyết định trợ cấp xã hội và tổ chức thực hiện việc chi trả theo quy định.
Thời điểm bắt đầu hưởng trợ cấp được tính từ tháng Chủ tịch UBND cấp xã ký quyết định.
Trong trường hợp hồ sơ không đáp ứng điều kiện, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do để người dân biết.
Đang hưởng trợ cấp nhưng chuyển nơi cư trú thì sao?

Chính sách cũng quy định trường hợp người đang nhận trợ cấp xã hội hằng tháng chuyển sang nơi cư trú mới và có nhu cầu tiếp tục nhận chế độ tại địa phương mới.
Khi đó, UBND cấp xã nơi cư trú cũ thực hiện việc thôi chi trả tại địa bàn cũ, đồng thời chuyển hồ sơ liên quan đến UBND cấp xã nơi người hưởng chuyển đến.
Căn cứ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền tại nơi cư trú mới sẽ quyết định tiếp tục chi trả trợ cấp hằng tháng theo mức tương ứng áp dụng tại địa bàn.
Ngược lại, nếu người đang hưởng trợ cấp qua đời, không còn đáp ứng điều kiện hoặc có thay đổi về điều kiện hưởng, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét quyết định dừng hoặc điều chỉnh mức trợ cấp.
Với trường hợp thôi hưởng do người hưởng qua đời hoặc không còn đủ điều kiện, thời điểm dừng trợ cấp được tính từ tháng ngay sau tháng phát sinh sự kiện. Nếu điều kiện hưởng thay đổi dẫn đến phải điều chỉnh mức trợ cấp, mức mới được áp dụng từ tháng người hưởng thay đổi điều kiện.
Như vậy, khoản trợ cấp 810.000 đồng/tháng là chính sách hỗ trợ dành cho nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc thù, không phải chính sách trợ cấp chung cho mọi người không có lương hưu. Người dân cần đối chiếu đầy đủ điều kiện về tình trạng hưởng lương, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và diện hộ nghèo trước khi làm hồ sơ đề nghị.