Theo Thư viện Pháp luật, ngày 27/03/2026, Bộ Tài chính đã công bố và lấy ý kiến Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.
Tại khoản 2 Điều 50 Dự thảo có đề xuất như sau:
Khấu trừ thuế, khai thuế thay, nộp thuế thay
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng mà mức thu nhập từ 3 triệu đồng/lần trở lên thì phải khẩu trừ thuế, khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.
...

Theo đó, đề xuất “thu nhập từ 3.000.000 đồng/lần trở lên sẽ bị khấu trừ 10% thuế TNCN” không áp dụng cho tất cả người lao động, mà chỉ áp dụng cho một nhóm đối tượng cụ thể.
Cụ thể, quy định này áp dụng đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công nhưng không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng.
Đây là nhóm thường bao gồm lao động thời vụ, thử việc, cộng tác viên, freelancer hoặc những người nhận thù lao từng lần. Khi các đối tượng này nhận thu nhập từ 3 triệu đồng/lần trở lên, tổ chức hoặc cá nhân chi trả có trách nhiệm khấu trừ 10% trước khi trả tiền.
Ngược lại, người lao động ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên không áp dụng mức khấu trừ 10% theo từng lần chi trả như trên, mà thực hiện tính thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần dựa trên thu nhập tháng sau khi trừ các khoản giảm trừ.
Như vậy, cần hiểu đúng rằng mốc 3 triệu đồng/lần không phải là “ngưỡng chịu thuế chung”, mà chỉ là ngưỡng kích hoạt việc khấu trừ 10% đối với thu nhập vãng lai/ngắn hạn, áp dụng riêng cho nhóm lao động không ổn định về hợp đồng lao động.
Ngoài ra, tại quy định tại Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC, được sửa đổi bởi khoản 1 và khoản 2 Điều 20 Thông tư 92/2015/TT-BTC người lao động được quyền yêu cầu cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN nếu bị khấu trừ thuế thuộc một trong các trường hợp sau:
- Khấu trừ đối với thu nhập của người lao động là cá nhân không cư trú.
- Khấu trừ đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công.
- Khấu trừ đối với thu nhập từ làm đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp; thu nhập từ hoạt động cho doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thuê tài sản.
- Khấu trừ đối với thu nhập từ đầu tư vốn.
- Khấu trừ đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán.
- Khấu trừ đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp của cá nhân không cư trú.
- Khấu trừ đối với thu nhập từ trúng thưởng.
- Khấu trừ đối với thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại.
- Khấu trừ đối với khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác (khấu trừ 10% tại nguồn trước khi trả thu nhập).
Trong một số trường hợp cụ thể, việc cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN được quy định như sau:
+ Cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng thì thực hiện như sau: Cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân trả thu nhập cấp chứng từ khấu trừ cho mỗi lần khấu trừ thuế hoặc cấp 01 chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một kỳ tính thuế.
+ Cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì thực hiện như sau: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập chỉ cấp cho cá nhân 01 chứng từ khấu trừ trong một kỳ tính thuế.