Học bạ số được tra cứu qua VNeID và Cổng Dịch vụ công quốc gia đúng không?

Theo Thư viện pháp luật, ngày 22/8/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định về quản lý và sử dụng học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên. 

1. Học bạ số được tra cứu qua VNeID và Cổng Dịch vụ công quốc gia đúng không?

Theo khoản 2 Điều 11 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT việc khai thác học bạ số được thực hiện thông qua hệ thống dữ liệu sau:

- Hệ thống thông tin, phần mềm quản lý giáo dục; 

- Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh quốc gia VNeID 

Và các nền tảng số khác khi đáp ứng các điều kiện kết nối, xác thực, bảo đảm an toàn thông tin và được cơ quan có thẩm quyền cho phép. 

707e2be9-79ce-47a0-90f7-f221145ce7d3-1787889711.png

Ngoài ra, tại khoản 1, 2 Điều 14 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT cũng quy định dữ liệu học bạ số tại các cơ sở giáo dục phải được kết nối, đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo theo chuẩn dữ liệu và chuẩn kỹ thuật theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đồng thời, dữ liệu học bạ số phải bảo đảm khả năng tích hợp, khai thác trên Nền tảng số giáo dục quốc gia, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các hệ thống thông tin có liên quan theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo quy định nêu trên, từ ngày 08/10/2026, có thể tra cứu dữ liệu học bạ số trên ứng dụng định danh quốc gia VNeID, cổng Dịch vụ công quốc gia và các nền tảng khác.

2. Giá trị pháp lý của học bạ số

Theo Điều 4 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT học bạ số có giá trị pháp lý khi được tạo lập, cập nhật, xác thực, ký số và phát hành theo đúng quy định của pháp luật và quy định tại Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT.

- Học bạ số được tạo lập đúng thẩm quyền, đúng quy trình, đúng chuẩn dữ liệu, có đầy đủ nội dung theo quy định và được ký số theo quy định tại Điều 9 Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT thì có giá trị pháp lý như học bạ giấy và được sử dụng trong hoạt động quản lý giáo dục và đào tạo, thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch hợp pháp có liên quan.

- Bản điện tử học bạ số, bản trích lục điện tử học bạ số được tạo lập, trích xuất từ hệ thống học bạ số và được cơ sở giáo dục xác nhận thì có giá trị sử dụng đối với thông tin được thể hiện trên bản điện tử hoặc bản trích lục điện tử theo quy định của pháp luật và quy định của Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT.

screenshot-1787889635-1787889656.png
Học bạ số có giá trị pháp lý khi được tạo lập, cập nhật, xác thực, ký số và phát hành theo đúng quy định của pháp luật . Ảnh minh họa.

3. Quy định về sử dụng học bạ số 

- Học bạ số được sử dụng trong các hoạt động sau đây:

+ Phục vụ việc tuyển sinh, chuy ển trường, xác minh thông tin về học tập, xét hoàn thành chương trình, xét lên lớp;

+ Phục vụ công tác lưu trữ, quản lý giáo dục, thống kê, phân tích, đánh giá chất lượng giáo dục, tư vấn, định hướng nghề nghiệp, xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường;

+ Thực hiện thủ tục hành chính và các hoạt động nghiệp vụ khác liên quan trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

- Cơ quan tiếp nhận dữ liệu học bạ số có trách nhiệm kiểm tra, xác thực dữ liệu trước khi sử dụng để giải quyết công việc.

- Khi học bạ số, bản điện tử học bạ số, trích lục điện tử học bạ số đã đáp ứng điều kiện quy định tại Thông tư này, cơ quan, tổ chức tiếp nhận không được yêu cầu nộp thêm học bạ giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Trường hợp hệ thống tiếp nhận chưa đủ điều kiện kết nối trực tuyến, cơ quan, tổ chức tiếp nhận được sử dụng bản điện tử hoặc bản trích lục điện tử có xác thực theo quy định.

- Học bạ số, bản điện tử học bạ số và bản trích lục điện tử học bạ số được chuyển đổi sang văn bản giấy theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Văn bản giấy được chuyển đổi hợp lệ có giá trị sử dụng theo quy định của pháp luật. Người học hoặc người đại diện theo pháp luật của người học có quyền yêu cầu cơ sở giáo dục thực hiện việc chuyển đổi và không phải trả phí.

Lam Giang (t/h)