Theo Thư viện Pháp luật, căn cứ quy định của pháp luật lao động hiện hành, lương tháng 13 không có định nghĩa hoặc quy định cụ thể trong bất kỳ văn bản pháp luật nào. Nó không được xem xét như một phần của tiền lương, phụ cấp lương, hoặc các khoản bổ sung khác trong cơ cấu lương của người lao động. Các chế độ phúc lợi khác được quy định trong Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH cũng không bao gồm lương tháng 13. Do đó, pháp luật lao động không có quy định cụ thể về lương tháng 13.
Khi xem xét định nghĩa về thưởng theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Lao động 2019, thưởng được hiểu là số tiền, tài sản hoặc các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động dựa trên kết quả sản xuất, kinh doanh hoặc mức độ hoàn thành công việc.
Thực tế, các doanh nghiệp thường sẽ thỏa thuận với người lao động về lương tháng 13 trong hợp đồng lao động như một phần của thưởng Tết.
Như vậy, việc trả lương tháng 13 không được xem là bắt buộc theo quy định pháp luật, nhưng nếu đã có thỏa thuận về lương tháng 13 trong hợp đồng lao động và người lao động đáp ứng các tiêu chí nhất định được quy định bởi doanh nghiệp mà doanh nghiệp không thực hiện, người lao động có quyền sử dụng các biện pháp pháp lý để đòi khoản tiền này, bao gồm khiếu nại hoặc gửi đơn yêu cầu hòa giải đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện để yêu cầu doanh nghiệp thanh toán lương tháng 13.
Căn cứ Điều 199 Bộ luật Lao động 2019 người lao động có quyền đình công khi phát sinh tranh chấp lao động lao động tập thể về lợi ích. Đây là những tranh chấp phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể hoặc khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng.
Do đó, nếu doanh nghiệp đã có cam kết cụ thể về việc chi trả lương tháng 13 trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế thưởng mà không thực hiện, người lao động có quyền đình công. Việc đình công chỉ được coi là hợp pháp khi tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục luật định. Tự ý đình công không đúng quy định có thể bị xem là đình công trái pháp luật và phát sinh hậu quả pháp lý bất lợi cho người lao động.
Ngoài ra, tại Điều 204 Bộ luật Lao động 2019 có quy định như sau:
Trường hợp đình công bất hợp pháp
1. Không thuộc trường hợp được đình công quy định tại Điều 199 của Bộ luật này.
2. Không do tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công.
3. Vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành đình công theo quy định của Bộ luật này.
4. Khi tranh chấp lao động tập thể đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật này.
5. Tiến hành đình công trong trường hợp không được đình công quy định tại Điều 209 của Bộ luật này.
6. Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 210 của Bộ luật này.
Như vậy, những trường hợp đình công bất hợp pháp bao gồm:
- Không thuộc trường hợp được quyền đình công.
- Không do tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công.
- Vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành đình công.
- Khi tranh chấp lao động tập thể đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định.
- Tiến hành đình công ở những nơi không được đình công.
- Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Theo Điều 200 Bộ luật Lao động 2019 thì đình công phải trải qua trình tự cụ thể như sau:
- Lấy ý kiến về đình công;
- Ra quyết định đình công và thông báo đình công;
- Tiến hành đình công. Nếu không đảm bảo trình tự này, cuộc đình công sẽ là bất hợp pháp.