Thư viện pháp luật thông tin, hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa đưa ra khái niệm chính thức về lương cơ bản. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động 2019 có thể hiểu lương cơ bản là mức lương thấp nhất được trả cho công việc hoặc chức danh, đồng thời không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
Lương cơ bản thường được ghi rõ trong hợp đồng lao động, dựa trên sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Đây cũng là mức lương được sử dụng làm căn cứ để tính các khoản đóng bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Cần lưu ý rằng lương cơ bản không bao gồm các khoản phụ cấp, tiền thưởng, phúc lợi và các khoản thu nhập bổ sung. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, lương cơ bản không phải là toàn bộ mức lương thực nhận của người lao động.
Đồng thời, tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, lương cơ bản thường là mức sàn pháp lý mà Nhà nước quy định, chính là lương tối thiểu vùng.
Từ ngày 12/06/2025, cả nước còn lại 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh (28 tỉnh, 6 thành phố), trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố mới hình thành từ việc sắp xếp, hợp nhất các đơn vị hành chính cũ, cùng với 11 tỉnh và thành phố không bị tác động bởi đợt sắp xếp này, tạo nên một cơ cấu hành chính cấp tỉnh tinh gọn hơn.
Đồng thời, mức lương tối thiểu vùng cũng được điều chỉnh từ ngày 01/01/2026 để phù hợp với 34 tỉnh thành sau sáp nhập.
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP mức lương tối thiểu vùng 2026 áp dụng vào 01/01/2026 với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động như sau:
- Vùng 1: 5.310.000 đồng/tháng hoặc 25.500 đồng/giờ
- Vùng 2: 4.730.000 đồng/tháng hoặc 22.700 đồng/giờ
- Vùng 3: 4.140.000 đồng/tháng hoặc 20.000 đồng/giờ
- Vùng 4: 3.700.000 đồng/tháng hoặc 17.800 đồng/giờ
Danh mục địa bàn vùng 1, vùng 2, vùng 3, vùng 4 được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP.
Việc áp dụng địa bàn vùng được xác định theo nơi hoạt động của người sử dụng lao động như sau:
- Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn thuộc vùng nào thì áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.
- Người sử dụng lao động có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.
- Người sử dụng lao động hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất.
- Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn có sự thay đổi tên hoặc chia thì tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn trước khi thay đổi tên hoặc chia cho đến khi Chính phủ có quy định mới.
- Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn được thành lập mới từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng mức lương tối thiểu theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất cho đến khi Chính phủ có quy định mới.
Để đảm bảo không làm giảm quyền lợi tiền lương của người lao động khi điều chỉnh địa bàn áp dụng lương tối thiểu vùng, tại khoản 5 Điều 5 Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định: Trường hợp do điều chỉnh địa bàn áp dụng lương tối thiểu vùng mà mức lương tối thiểu vùng mới thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đang áp dụng tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2025, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lương cho người lao động được tuyển dụng trước thời điểm này với mức không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đang áp dụng tại ngày 31 tháng 12 năm 2025.
Như vậy, sẽ không tăng lương cơ bản năm 2026 lên mức mới cao hơn cho đội ngũ người lao động đã được tuyển dụng trước thời điểm 01/01/2026 có mức lương hiện tại bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu mới.
Nói cách khác, mức lương mới theo Nghị định 293 chỉ là mức tối thiểu. Người lao động đang được trả cao hơn mức này không bắt buộc phải được tăng thêm chỉ vì Nghị định tăng mức tối thiểu.