Tin vui với người lao động hưởng lương theo hợp đồng: Từ năm 2027, lương tối thiểu tăng mạnh

Theo Nghị định 399/2026/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh tăng từ ngày 1/1/2027, trong đó vùng I đạt 5,7 triệu đồng/tháng. Người sử dụng lao động đồng thời phải rà soát thỏa thuận tiền lương và tiếp tục bảo đảm những chế độ có lợi hơn cho người lao động.

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã ký ban hành Nghị định 399/2026/NĐ-CP về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng. Theo quy định mới, từ ngày 1/1/2027, mức lương tối thiểu tháng và giờ tại cả 4 vùng đều được điều chỉnh tăng, mức tăng cao nhất là 390.000 đồng/tháng.

Nghị định 399/2026/NĐ-CP sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2027, đồng thời thay thế Nghị định 293/2025/NĐ-CP.

images-2026-11-04t194640386-1793796411.jfif

Các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định bao gồm người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; người sử dụng lao động, gồm doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình và cá nhân có thuê mướn lao động theo thỏa thuận.

Ngoài ra, những cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến quá trình thực hiện quy định về mức lương tối thiểu cũng thuộc nhóm đối tượng áp dụng.

Lương tối thiểu vùng năm 2027 tăng cao nhất 390.000 đồng/tháng

Theo Nghị định 399/2026/NĐ-CP, mức lương tối thiểu tháng được điều chỉnh tăng tại cả 4 vùng so với quy định hiện hành tại Nghị định 293/2025/NĐ-CP ban hành ngày 10/11/2025.

hcucu-1793796331.png

Không chỉ tiền lương tối thiểu tháng được điều chỉnh, mức lương tối thiểu tính theo giờ cũng tăng tương ứng tại các địa bàn. Cụ thể, người lao động thuộc vùng I được áp dụng mức 27.400 đồng/giờ, tăng 1.900 đồng so với mức 25.500 đồng/giờ trước đây. Tại vùng II, mức mới là 24.400 đồng/giờ, tăng từ 22.700 đồng/giờ.

Đối với vùng III, lương tối thiểu giờ tăng từ 20.000 đồng lên 21.400 đồng. Trong khi đó, vùng IV được điều chỉnh từ 17.800 đồng lên 19.400 đồng/giờ. Danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu từ ngày 1/1/2027: (Theo phụ lục ban hành kèm Nghị định 399/2026/NĐ-CP).

Việc xác định mức lương tối thiểu theo vùng được căn cứ vào địa bàn nơi người sử dụng lao động hoạt động. Theo đó, doanh nghiệp và đơn vị sử dụng lao động thuộc vùng nào phải thực hiện mức lương tối thiểu tương ứng với vùng đó.

Trường hợp doanh nghiệp có nhiều chi nhánh hoặc đơn vị trực thuộc đặt tại các địa bàn khác nhau, mỗi đơn vị sẽ áp dụng mức lương tối thiểu theo khu vực nơi đặt địa điểm hoạt động.

Đối với các đơn vị hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do hoặc khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nằm trên địa bàn có nhiều mức lương tối thiểu khác nhau, mức được áp dụng là mức cao nhất trong các địa bàn liên quan.

Ngoài ra, nghị định cũng quy định cách xử lý đối với những địa phương có sự thay đổi về tên gọi, chia tách hoặc thành lập mới. Trong thời gian chưa có quy định thay thế của Chính phủ, địa bàn đổi tên hoặc chia tách tiếp tục áp dụng mức lương tối thiểu tương ứng với địa bàn trước đó.

Trường hợp địa bàn mới được thành lập từ một hoặc nhiều khu vực có mức lương tối thiểu khác nhau, mức cao nhất sẽ được sử dụng làm căn cứ áp dụng cho đến khi có quy định mới.

Quy định cụ thể về cách áp dụng lương tối thiểu tháng và giờ

Nghị định 399/2026/NĐ-CP xác định mức lương tối thiểu tháng là ngưỡng thấp nhất để người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận tiền lương đối với hình thức trả lương theo tháng.

Theo đó, người lao động làm đủ thời gian làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành khối lượng công việc hoặc định mức lao động đã thống nhất phải được trả lương không thấp hơn mức tối thiểu tháng tương ứng với địa bàn làm việc.

Đối với hình thức trả lương theo giờ, mức tối thiểu giờ được sử dụng làm căn cứ xác định tiền công thấp nhất. Người lao động hoàn thành công việc hoặc định mức đã thỏa thuận trong một giờ làm việc phải nhận mức tiền lương ít nhất bằng mức tối thiểu giờ theo quy định.

Trường hợp doanh nghiệp trả lương theo tuần, ngày, sản phẩm hoặc khoán, tiền lương sau khi quy đổi sang tháng hoặc giờ cũng phải bảo đảm không thấp hơn mức tối thiểu tương ứng.

Cách tính mức lương quy đổi được xác định như sau:

Đối với lương tháng: Có thể lấy tiền lương tuần nhân với 52 tuần rồi chia cho 12 tháng; hoặc lấy tiền lương ngày nhân với số ngày làm việc bình thường trong tháng. Với hình thức trả lương theo sản phẩm hoặc khoán, căn cứ vào tiền lương thực hiện trong thời gian làm việc bình thường của tháng.

Đối với lương giờ: Lấy tiền lương tuần hoặc ngày chia cho tổng số giờ làm việc bình thường tương ứng trong tuần hoặc ngày. Nếu trả lương theo sản phẩm hoặc khoán, lấy tiền lương thực hiện chia cho số giờ làm việc bình thường cần thiết để hoàn thành sản phẩm hoặc nhiệm vụ được giao.

Việc quy đổi phải dựa trên thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật lao động và phương thức trả lương mà người sử dụng lao động lựa chọn.

Doanh nghiệp không được cắt giảm chế độ tiền lương khi tăng lương tối thiểu

Nghị định 399/2026/NĐ-CP bắt đầu được áp dụng từ ngày 1/1/2027. Cùng thời điểm này, Nghị định 293/2025/NĐ-CP về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động chính thức hết hiệu lực.

Để bảo đảm thực hiện đúng quy định mới, người sử dụng lao động có trách nhiệm kiểm tra, rà soát lại các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể cũng như quy chế trả lương của đơn vị để kịp thời điều chỉnh, bổ sung.

Đáng chú ý, việc điều chỉnh mức lương tối thiểu không được trở thành lý do để doanh nghiệp xóa bỏ hoặc giảm các chế độ có lợi cho người lao động. Những khoản liên quan đến tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm, bồi dưỡng bằng hiện vật và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật lao động vẫn phải được bảo đảm.

Đối với những thỏa thuận, cam kết trước đó có lợi hơn cho người lao động so với quy định mới, doanh nghiệp tiếp tục thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Các quyền lợi này bao gồm chế độ trả lương cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu đối với người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi phải qua học tập, đào tạo nghề.

Bên cạnh đó, người lao động đảm nhận công việc có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng mức lương cao hơn ít nhất 5%; trường hợp làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, mức chênh lệch tối thiểu là 7% so với công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương trong điều kiện lao động bình thường.

Những cam kết có lợi hơn đã được ghi nhận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc các thỏa thuận hợp pháp khác vẫn tiếp tục có giá trị thực hiện, trừ khi người lao động và người sử dụng lao động thống nhất điều chỉnh theo quy định.

Mai Hương (T/H)