Căn cứ vào Nghị quyết 47/2026/NQ-HĐND ngày 28/8/2026 do HĐND tỉnh An Giang ban hành Quy định mức phụ cấp, việc kiêm nhiệm chức danh, số lượng, chức danh và một số chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách, người tham gia hoạt động ở ấp, khóm, khu phố trên địa bàn tỉnh An Giang.

Theo đó, mức phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở ấp, khóm, khu phố được hưởng như sau:
- Đối với ấp có từ 700 hộ gia đình trở lên; khóm, khu phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; ấp, khóm, khu phố thuộc đơn vị hành chính xã, phường, đặc khu trọng điểm về quốc phòng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; ấp, khóm, khu phố thuộc đơn vị hành chính xã, phường, đặc khu ở khu vực biên giới, hải đảo, ấp đặc biệt khó khăn thì mức phụ cấp của Bí thư Chi bộ ấp, khóm, khu phố; Trưởng ấp, khóm, khu phố bằng 2,73 lần mức lương cơ sở/người/tháng; Trưởng Ban Công tác Mặt trận ấp, khóm, khu phố phụ cấp bằng 2,54 lần mức lương cơ sở/người/tháng (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội).
- Đối với ấp, khóm, khu phố không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì mức phụ cấp của Bí thư Chi bộ ấp, khóm, khu phố; Trưởng ấp, khóm, khu phố bằng 2,23 lần mức lương cơ sở/người/tháng; Trưởng Ban Công tác Mặt trận ấp, khóm, khu phố bằng 2,04 lần mức lương cơ sở/người/tháng (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội).
Ngoài ra tại Điều 5 Nghị quyết 47/2026/NQ-HĐND quy định mức hỗ trợ người hoạt động KCT ở ấp, khóm, khu phố có bằng cấp chuyên môn như sau:
- Bằng đại học trở lên: Hỗ trợ 700.000 đồng/người/tháng.
- Bằng cao đẳng: Hỗ trợ 600.000 đồng/người/tháng.
- Bằng trung cấp: Hỗ trợ 500.000 đồng/người/tháng.
Như vậy, người hoạt động KCT ở ấp, khóm, khu phố được hỗ trợ 500.000 đồng/tháng khi có bằng trung cấp; 600.000 đồng/tháng đối với bằng cao đẳng; 700.000 đồng/tháng đối với bằng đại học trở lên.

Lưu ý: Trưởng thôn, Trưởng ấp, Trưởng bản, Trưởng buôn, Trưởng sóc... là cách gọi khác nhau của người đứng đầu thôn, ấp, bản, buôn, sóc và các tổ chức tương đương tùy theo tên gọi của cộng đồng dân cư tại từng địa phương. Vì vậy, trong nội dung bài viết, Trưởng thôn và Trưởng ấp được hiểu là cùng một chức danh người đứng đầu cộng đồng dân cư, chỉ khác về tên gọi theo địa bàn.
Ngoài ra, theo Điều 7 Nghị định 185/2026/NĐ-CP, Trưởng thôn phải đáp ứng các tiêu chuẩn như: là công dân Việt Nam cư trú thường xuyên tại địa bàn xã, phường, đặc khu từ đủ 21 tuổi trở lên; có đủ sức khỏe; có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu, có uy tín và được Nhân dân tín nhiệm.
Ngoài ra, người được lựa chọn làm Trưởng thôn phải có kiến thức văn hóa, năng lực, kinh nghiệm, phương pháp vận động, tổ chức Nhân dân; có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, lập kế hoạch, tổng hợp, thống kê, báo cáo và thực hiện nhiệm vụ được giao.
Người đang bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành bản án, quyết định của Tòa án thì không đủ tiêu chuẩn.