Từ 5/10/2026, tăng trợ cấp xã hội cho người khuyết tật lên bao nhiêu tiền?
Người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội được nhận từ 810.000 đồng đến 1.350.000 đồng/tháng, tùy mức độ khuyết tật và trường hợp cụ thể. Người khuyết tật nặng có hệ số 1,5 được nhận 810.000 đồng/tháng; người khuyết tật đặc biệt nặng có hệ số 2 được nhận 1.080.000 đồng/tháng; một số trường hợp là trẻ em hoặc người cao tuổi khuyết tật được áp dụng hệ số cao hơn, tương ứng 1.350.000 đồng/tháng.
Cụ thể như sau:
Người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng là một trong 8 nhóm đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên theo Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP. Từ ngày 5/10/2026, mức trợ cấp dành cho nhóm này tăng theo mức chuẩn mới 540.000 đồng/tháng.
Theo điểm e khoản 1 Điều 6 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mức trợ cấp xã hội hằng tháng dành cho người khuyết tật được tính như sau:

So với mức chuẩn cũ 500.000 đồng/tháng theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP, mỗi mức trợ cấp trên đều tăng tương ứng với tỷ lệ tăng của mức chuẩn (8%).
Lưu ý: Nghị định 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/10/2026, nhưng mức chuẩn trợ giúp xã hội 540.000 đồng/tháng được áp dụng từ ngày 01/7/2026 đối với người đang hưởng chính sách theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP. Vì vậy, các đối tượng thuộc diện được chuyển sang mức trợ cấp mới sẽ được tính hưởng từ ngày 1/07/2026 và truy lĩnh phần chênh lệch so với mức đã nhận.
Tạm dừng hưởng trợ cấp xã hội khi thuộc trường hợp nào?
Tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định tạm dừng hưởng trợ cấp xã hội khi thuộc trường hợp sau:
- Đối tượng không nhận chế độ, chính sách liên tục từ 03 tháng trở lên;
- Đối tượng không chấp hành yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xác định lại mức độ khuyết tật, xác định lại điều kiện hưởng trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hằng tháng hoặc thông tin khác phục vụ công tác quản lý đối tượng.
Trường hợp đã có quyết định tạm dừng hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, mà sau khi rà soát hồ sơ, dữ liệu đối tượng không thay đổi điều kiện hưởng chế độ chính sách thì đối tượng tiếp tục được hưởng chế độ, chính sách từ thời điểm tạm dừng hưởng chế độ, chính sách.
Trường hợp đối tượng không còn đủ điều kiện hưởng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thôi hưởng chế độ, chính sách kể từ thời điểm tạm dừng hưởng. Trường hợp đối tượng thay đổi điều kiện hưởng chế độ, chính sách thì thực hiện điều chỉnh chế độ, chính sách kể từ thời điểm thay đổi điều kiện hưởng chế độ, chính sách.

Xác định mức độ khuyết tật nặng hay đặc biệt nặng dựa trên căn cứ nào?
Mức độ khuyết tật nặng hay đặc biệt nặng được xác định theo quy định tại Điều 3 Nghị định 28/2012/NĐ-CP, cụ thể như sau:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
- Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
Khi sử dụng người lao động khuyết tật không được thực hiện những hành vi nào?
Theo Điều 160 Bộ luật Lao động 2019 một số lưu ý khi sử dụng người lao động khuyết tật, người sử dụng lao động sau đây:
- Thứ nhất, không được sử dụng người lao động khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm mà chưa có sự đồng ý của người lao động.
- Thứ hai, không được sử dụng người lao động khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm mà chưa có sự đồng ý của người khuyết tật.