Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định nhiều mức xử phạt đối với người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định về tham gia và đóng BHXH bắt buộc.
Trong đó, các hành vi không đăng ký, đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia, chậm đóng hoặc trốn đóng BHXH đều có mức xử lý cụ thể, đồng thời đi kèm các biện pháp khắc phục hậu quả.
Các mức phạt chậm, trốn đóng BHXH
Theo khoản 2 Điều 43 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn đăng ký có thể bị xử phạt.
Quy định này cũng áp dụng đối với trường hợp đã quá 60 ngày nhưng hành vi vẫn thuộc diện chưa bị xác định là trốn đóng BHXH bắt buộc.
Mức phạt được xác định dựa trên số lượng người lao động bị vi phạm. Đối với cá nhân và hộ kinh doanh, mức phạt cụ thể như sau:

Bên cạnh hành vi không đăng ký hoặc đăng ký thiếu người tham gia, khoản 3 Điều 43 quy định mức phạt từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng BHXH bắt buộc tại thời điểm lập biên bản.
Mức phạt tối đa là 75 triệu đồng đối với cá nhân. Trường hợp chủ thể vi phạm là tổ chức, mức phạt có thể lên tới 150 triệu đồng theo nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 7.
Các hành vi bị xử phạt gồm chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền BHXH bắt buộc theo hồ sơ tham gia đã đăng ký kể từ sau thời hạn đóng chậm nhất.
Trường hợp người sử dụng lao động không đóng hoặc đóng thiếu sau 60 ngày, đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc nhưng chưa thuộc trường hợp bị coi là trốn đóng, cũng có thể bị xử phạt theo tỷ lệ nêu trên.
Đáng chú ý, khoản 1 Điều 43 còn quy định hình thức cảnh cáo đối với hành vi thuộc khoản 3 nếu số tiền vi phạm tại thời điểm lập biên bản dưới 400.000 đồng. Tuy nhiên, việc bị cảnh cáo không đồng nghĩa với việc được miễn nghĩa vụ khắc phục.
Theo khoản 4 Điều 43, người sử dụng lao động vẫn phải lập hoặc hoàn thiện hồ sơ đăng ký tham gia BHXH cho người lao động, đóng đầy đủ số tiền BHXH bắt buộc chậm đóng và nộp thêm khoản tiền bằng 0,03% mỗi ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng vào quỹ BHXH.
Trốn đóng BHXH bị xử lý nghiêm hơn
Đối với hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc, mức xử phạt được quy định tại Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP và cao hơn so với nhóm hành vi chậm đóng.
Theo khoản 1 Điều 44, người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết hạn đăng ký có thể bị xử phạt theo số lượng người lao động vi phạm.
Nếu số người lao động bị vi phạm dưới 10 người, mức phạt đối với cá nhân và hộ kinh doanh là 6–12 triệu đồng. Với trường hợp vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên, mức phạt có thể từ 70–75 triệu đồng.
Nếu chủ thể vi phạm là tổ chức, mức phạt được áp dụng theo nguyên tắc nhân đôi. Như vậy, mức phạt cao nhất trong trường hợp này có thể lên tới 150 triệu đồng.
Không chỉ số lượng người lao động, hành vi xác định tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn mức pháp luật quy định cũng có thể bị xử phạt.
Khoản 2 Điều 44 quy định mức phạt từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng BHXH bắt buộc đối với người sử dụng lao động thuộc trường hợp vi phạm.
Quy định này cũng áp dụng với trường hợp người sử dụng lao động không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền BHXH đã đăng ký sau 60 ngày, dù đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc và hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mức phạt theo quy định này không quá 75 triệu đồng đối với cá nhân và có thể lên tới 150 triệu đồng đối với tổ chức.
Ngoài tiền phạt, người sử dụng lao động còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Trong đó, phải đăng ký đầy đủ số người thuộc diện tham gia BHXH, đóng đủ số tiền BHXH trốn đóng và nộp thêm khoản tiền bằng 0,03% mỗi ngày tính trên số tiền và số ngày trốn đóng.

Người lao động cần lưu ý gì?
Các quy định mới cho thấy hành vi vi phạm nghĩa vụ tham gia, đóng BHXH có thể kéo theo mức xử phạt đáng kể, đặc biệt khi số lượng người lao động bị ảnh hưởng lớn hoặc số tiền chậm đóng, trốn đóng cao.
Với người lao động, việc doanh nghiệp chậm hoặc không đóng BHXH có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình ghi nhận thời gian tham gia và việc giải quyết các quyền lợi liên quan theo quy định.
Do đó, người lao động nên chủ động kiểm tra quá trình tham gia BHXH của mình, đặc biệt khi phát hiện thời gian đóng trên hệ thống không đầy đủ so với thời gian thực tế làm việc.
Đối với người sử dụng lao động, việc rà soát hồ sơ lao động, đối tượng tham gia, mức tiền lương làm căn cứ đóng và thời hạn đóng BHXH là cần thiết để hạn chế nguy cơ phát sinh vi phạm và các khoản tiền phạt, tiền phải nộp bổ sung theo quy định mới.