Người lao động làm việc trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9/2026 sẽ được trả lương làm thêm theo quy định của Bộ luật Lao động. Tùy thuộc làm việc vào ban ngày, ban đêm hay làm thêm vào ban đêm, tổng thu nhập có thể đạt từ 300% đến 490% so với ngày làm việc bình thường.
Dưới đây là những quy định mới nhất về lịch nghỉ lễ và chế độ tiền lương mà người lao động cần biết.
Lịch nghỉ lễ Quốc khánh 2/9/2026 được bố trí như thế nào?
- Quốc khánh 2/9/2026: Hộ gia đình nào sẽ được nhận 10.000.000 đồng tiền mặt theo Kế hoạch 283?
- Lịch nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 và Ngày Văn hóa Việt Nam 2026: CBCCVC, người lao động được nghỉ bao nhiêu ngày?
- Chính thức: Chi hơn 10,3 tỷ đồng tặng quà dịp Quốc khánh 2/9/2026 theo Kế hoạch 283, cụ thể ra sao?

Theo Thông báo số 9441/TB-BNV của Bộ Nội vụ, cán bộ, công chức, viên chức được nghỉ lễ Quốc khánh năm 2026 trong 5 ngày liên tục, từ 29/8 đến hết ngày 2/9/2026.
Để tạo kỳ nghỉ dài, Bộ Nội vụ thực hiện hoán đổi ngày làm việc từ thứ Hai (31/8/2026) sang thứ Bảy (22/8/2026).
Đối với người lao động làm việc tại doanh nghiệp, người sử dụng lao động sẽ bố trí nghỉ:
- Ngày 02/9 theo quy định bắt buộc.
- Lựa chọn thêm ngày 01/9 hoặc ngày 03/9 làm ngày nghỉ lễ còn lại.
Doanh nghiệp phải thông báo phương án nghỉ lễ cho người lao động ít nhất 30 ngày trước khi áp dụng.
Đi làm vào ngày nghỉ lễ Quốc khánh được trả lương bao nhiêu?
Theo Điều 112 Bộ luật Lao động 2019, người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương trong 2 ngày dịp Quốc khánh, gồm ngày 2/9 và một ngày liền kề trước hoặc sau.
Nếu người lao động làm việc vào các ngày nghỉ này theo yêu cầu của doanh nghiệp thì tiền lương được tính theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2019.

Như vậy, nếu doanh nghiệp bố trí người lao động làm việc vào 01/9 và 02/9 hoặc 02/9 và 03/9, người lao động sẽ được hưởng ít nhất 300% tiền lương cho thời gian làm việc, chưa kể tiền lương của ngày nghỉ lễ nếu thuộc đối tượng hưởng lương theo ngày.
Doanh nghiệp có được yêu cầu người lao động đi làm ngày lễ?
Theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động chỉ được tổ chức làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Có sự đồng ý của người lao động.
- Thời gian làm thêm không vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày.
- Nếu áp dụng chế độ làm việc theo tuần thì tổng thời gian làm việc và làm thêm không quá 12 giờ trong một ngày.
- Không vượt quá 40 giờ làm thêm trong một tháng.
- Tổng thời gian làm thêm không quá 200 giờ trong một năm, trừ một số ngành, nghề được phép làm thêm đến 300 giờ/năm theo quy định.
Như vậy, trong điều kiện thông thường, doanh nghiệp không được tự ý bắt buộc người lao động đi làm vào ngày nghỉ lễ nếu chưa có sự đồng ý.
Khi nào người lao động không được từ chối làm thêm?
Bên cạnh nguyên tắc phải có sự đồng ý của người lao động, Điều 108 Bộ luật Lao động 2019 cũng quy định một số trường hợp đặc biệt mà người sử dụng lao động có quyền yêu cầu làm thêm và người lao động không được từ chối.
Các trường hợp này gồm:
- Thực hiện lệnh động viên hoặc huy động để bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm hoặc thảm họa, trừ trường hợp việc làm thêm có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định về an toàn, vệ sinh lao động.
Ngoài các trường hợp nêu trên, việc bố trí làm thêm vào dịp nghỉ lễ vẫn phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện.

Người lao động cần lưu ý điều gì khi làm việc dịp Quốc khánh?
Khi được doanh nghiệp bố trí làm việc trong thời gian nghỉ lễ Quốc khánh, người lao động nên kiểm tra kỹ các nội dung sau:
- Ngày làm việc có đúng là ngày nghỉ lễ theo quy định hay không.
- Tiền lương làm thêm đã được tính đúng mức tối thiểu theo Bộ luật Lao động.
- Thời gian làm thêm có vượt giới hạn pháp luật cho phép hay không.
- Doanh nghiệp đã có sự thỏa thuận hoặc lấy ý kiến đồng ý của người lao động trước khi bố trí làm việc.
Trong trường hợp quyền lợi về tiền lương hoặc thời giờ làm việc không được bảo đảm, người lao động có thể phản ánh tới tổ chức công đoàn, cơ quan quản lý lao động hoặc thanh tra lao động để được xem xét, bảo vệ quyền lợi.