Người làm affiliate, freelance cần biết quy định thuế suất tới 35%.
Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP thì thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm: Tiền thù lao nhận được từ cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề.
Căn cứ quy định trên, các khoản thu nhập từ affiliate, freelance, sáng tạo nội dung, tư vấn, môi giới hoặc các khoản thù lao dịch vụ khác có thể được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công nếu cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh.

Cũng theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, nếu mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo tỉ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
Trường hợp mức chi trả dưới 5 triệu đồng/lần, tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Nếu cá nhân chỉ có thu nhập thuộc diện khấu trừ 10% nhưng ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế, cá nhân có thể làm cam kết gửi tổ chức trả thu nhập để tạm thời chưa bị khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Cuối năm, cá nhân thực hiện quyết toán thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần với thuế suất từ 5% đến 35% quy định tại Điều 9 Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Cụ thể, phần thu nhập tính thuế đến 10 triệu đồng/tháng áp dụng thuế suất 5%; trên 10-30 triệu đồng/tháng áp dụng thuế suất 10%; trên 30-60 triệu đồng/tháng áp dụng thuế suất 20%; trên 60-100 triệu đồng/tháng áp dụng thuế suất 30%; trên 100 triệu đồng/tháng áp dụng thuế suất 35%.

Cá nhân bị tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế trong trường hợp nào?
Theo khoản 1 Điều 28 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh bao gồm:
Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, có số tiền thuế nợ từ 50 triệu đồng trở lên và số tiền thuế nợ này đã quá thời hạn nộp theo quy định từ 120 ngày trở lên.
Cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mà doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đó thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, có số tiền thuế nợ từ 500 triệu đồng trở lên và số tiền thuế nợ này đã quá thời hạn nộp theo quy định từ 120 ngày trở lên;
Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thuộc trường hợp cơ quan quản lý thuế đủ căn cứ để xác định và đã ban hành thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký theo quy định, sau 120 ngày kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo mà không thực hiện thủ tục khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo quy định;
Cá nhân là người nước ngoài có số tiền thuế nợ quá thời hạn nộp theo quy định mà chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế;
Cá nhân là người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam có số tiền thuế nợ quá thời hạn nộp theo quy định mà chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.