Tạm đình chỉ công tác là biện pháp quản lý được áp dụng trong một số trường hợp nhằm phục vụ quá trình xem xét trách nhiệm, xử lý vi phạm hoặc bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Theo Nghị định 170/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 300/2026/NĐ-CP, các trường hợp công chức bị tạm đình chỉ công tác đã được quy định cụ thể. Đáng chú ý, cơ quan quản lý cần căn cứ vào tình trạng tố tụng và hồ sơ thực tế để quyết định, tránh áp dụng không đúng quy định.
Quy định về các trường hợp tạm đình chỉ công tác đối với công chức
Điều 56 Nghị định 170/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo Điều 26 Nghị định 300/2026/NĐ-CP của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, là căn cứ pháp lý quy định việc tạm đình chỉ công tác đối với công chức.
- Cán bộ Phòng Kỹ thuật hình sự kịp thời cứu người phụ nữ chảy nhiều máu sau tai nạn ở An Giang
- Lịch nghỉ Ngày Văn hóa Việt Nam 2026, Tết Nguyên đán và Lễ Quốc khánh 2027: Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được nghỉ bao nhiêu ngày?
- Thời điểm chi trả phụ cấp công vụ cho cán bộ công chức cấp xã theo Nghị định 381 là khi nào?
Đây là nội dung quan trọng mà các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý công chức cần lưu ý khi phát sinh những vụ việc liên quan đến trách nhiệm công vụ, vi phạm pháp luật hoặc hoạt động tố tụng.
Việc tạm đình chỉ công tác không đồng nghĩa với việc công chức đã bị kết luận có hành vi vi phạm hoặc đương nhiên phải chịu hình thức kỷ luật. Đây là biện pháp được thực hiện khi có căn cứ theo quy định, nhằm bảo đảm quá trình giải quyết vụ việc và công tác quản lý cán bộ, công chức.

Công chức đã bị khởi tố, cơ quan điều tra kết thúc điều tra có còn bị đình chỉ công tác?
Một tình huống thực tế được bà Lê Na gửi đến Bộ Nội vụ đề nghị hướng dẫn liên quan đến việc áp dụng quy định tạm đình chỉ công tác đối với công chức cấp xã.
Theo phản ánh, một công chức chuyên môn tại UBND xã đã bị khởi tố bị can nhưng trước đó vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được giao. Sau khi cơ quan điều tra kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát, cơ quan này chưa ban hành văn bản đề nghị tạm đình chỉ công tác đối với công chức nói trên.
Tuy nhiên, UBND xã sau đó đã ban hành quyết định tạm đình chỉ công tác trong thời hạn 30 ngày.
Từ tình huống này, bà Lê Na đặt câu hỏi: Khi cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát, điểm a khoản 2 Điều 56 Nghị định 170/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 300/2026/NĐ-CP, còn được sử dụng làm căn cứ tạm đình chỉ công tác hay không?
Đồng thời, nếu chưa có văn bản đề nghị của Viện kiểm sát thì UBND cấp xã có được tự quyết định tạm đình chỉ công tác trong thời hạn 30 ngày đối với công chức đó hay không?
Bộ Nội vụ hướng dẫn xử lý trường hợp tạm đình chỉ công tác

Trả lời nội dung trên, Bộ Nội vụ cho biết Điều 56 Nghị định 170/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 300/2026/NĐ-CP, đã quy định cụ thể các trường hợp tạm đình chỉ công tác đối với công chức.
Trên cơ sở đó, Bộ Nội vụ đề nghị UBND cấp xã rà soát các căn cứ pháp lý, tình trạng tố tụng và hồ sơ có liên quan để xác định việc ban hành quyết định tạm đình chỉ công tác đã phù hợp với quy định hiện hành hay chưa.
Đáng chú ý, trường hợp không còn đủ căn cứ để tiếp tục tạm đình chỉ công tác thì cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện theo điểm a khoản 6 Điều 56 Nghị định 170/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Điều 26 Nghị định 300/2026/NĐ-CP.
Như vậy, việc công chức đã bị khởi tố không có nghĩa cơ quan quản lý được tự động áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác trong mọi giai đoạn tố tụng. Việc xem xét và ban hành quyết định phải căn cứ vào đúng trường hợp, điều kiện và thẩm quyền được quy định.