Thư viện Pháp luật thông tin, theo Bộ luật Lao động 2019, tiền lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu.
Hiện nay, theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP, mức lương tối thiểu theo giờ tại các vùng được quy định như sau: vùng I là 25.500 đồng/giờ, vùng II là 22.700 đồng/giờ và vùng III là 20.000 đồng/giờ.

Tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu như sau:
|
Vùng |
Mức lương tối thiểu tháng (Đơn vị: đồng/tháng) |
Mức lương tối thiểu giờ (Đơn vị: đồng/giờ) |
|
Vùng I |
5.310.000 |
25.500 |
|
Vùng II |
4.730.000 |
22.700 |
|
Vùng III |
4.140.000 |
20.000 |
|
Vùng IV |
3.700.000 |
17.800 |
Căn cứ danh mục địa bàn áp dụng, nhiều khu vực tại TP.HCM được phân vào các vùng lương tối thiểu khác nhau, trong đó có cả vùng I, vùng II và vùng III.
Trường hợp 1: Vi phạm pháp luật
Nếu người lao động làm việc tại các xã, phường thuộc vùng I hoặc vùng II, việc trả lương 20.000 đồng/giờ là thấp hơn mức lương tối thiểu theo quy định (22.700 – 25.500 đồng/giờ), do đó bị xem là vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu.
Trường hợp 2: Không vi phạm pháp luật
Nếu người lao động làm việc tại các xã, phường thuộc vùng III, mức lương tối thiểu theo giờ đúng bằng 20.000 đồng/giờ, nên việc trả lương ở mức này không vi phạm quy định pháp luật.
Cách tính tiền lương làm thêm giờ theo quy định mới nhất hiện nay như thế nào?
Căn cứ Điều 55, 56, 57 Nghị định 145/2020/NĐ-CP việc tính toán tiền trả lương làm thêm dựa trực tiếp vào "Tiền lương giờ thực trả" của ngày làm việc bình thường. Điều kiện tiên quyết là "Tiền lương giờ thực trả" này tuyệt đối không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Giả sử người lao động nhận đúng mức lương tối thiểu vùng là 25.500 đồng/giờ, khi phát sinh giờ làm thêm, người sử dụng lao động phải áp dụng công thức nhân hệ số tỷ lệ phần trăm như sau:
Làm thêm vào ngày thường: 25.500 đồng x 150% x Số giờ làm thêm = 38.250 đồng/giờ.
Làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần: 25.500 đồng x 200% x Số giờ làm thêm = 51.000 đồng/giờ.
Làm thêm vào ngày nghỉ lễ, Tết: 25.500 đồng x 300% x Số giờ làm thêm = 76.500 đồng/giờ (chưa kể tiền lương của ngày nghỉ lễ, Tết đó).

Bên cạnh mức lương làm thêm giờ vào ban ngày, pháp luật lao động quy định chế độ đãi ngộ đặc biệt cao hơn rất nhiều khi người lao động phải cống hiến sức khỏe để làm thêm giờ vào ban đêm (tính từ 22 giờ đêm đến 06 giờ sáng hôm sau).
Theo công thức chuẩn do Chính phủ hướng dẫn, tiền lương làm thêm giờ ban đêm được cấu thành từ 3 khoản cộng dồn: (1) Tiền lương làm thêm giờ của ban ngày tương ứng + (2) Phụ cấp làm đêm 30% + (3) Phụ cấp thêm 20% tính trên tiền lương giờ vào ban ngày của ngày làm việc đó.
Giả sử người lao động nhận đúng mức lương tối thiểu vùng I tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh (áp dụng từ 01/01/2026) là 25.500 đồng/giờ thì khi phát sinh giờ làm thêm vào ban đêm, mức lương đúng luật ít nhất của người lao động được tính như sau:
Làm thêm ban đêm vào ngày thường: (25.500 đồng x 150%) + (25.500 đồng x 30%) + (20% x 25.500 đồng x 100%) = 38.250 + 7.650 + 5.100 = 51.000 đồng/giờ (Tương đương 200% lương cơ bản).
Làm thêm ban đêm vào ngày nghỉ hằng tuần (Chủ nhật): (25.500 đồng x 200%) + (25.500 đồng x 30%) + (20% x 25.500 đồng x 200%) = 51.000 + 7.650 + 10.200 = 68.850 đồng/giờ (Tương đương 270% lương cơ bản).
Làm thêm ban đêm vào ngày nghỉ lễ, Tết: (25.500 đồng x 300%) + (25.500 đồng x 30%) + (20% x 25.500 đồng x 300%) = 76.500 + 7.650 + 15.300 = 99.450 đồng/giờ (Tương đương 390% lương cơ bản, và con số này chưa bao gồm tiền lương của ngày nghỉ lễ, Tết được hưởng nguyên lương).
Người sử dụng lao động trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu cho người lao động thì bị xử phạt bao nhiêu?
Căn cứ theo khoản 3, 5 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP người sử dụng lao động trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu cho người lao động thì có thể bị xử phạt từ 20.000.000 đến 75.000.000 đồng tùy theo số người lao động bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm.
Bên cạnh việc phải nộp phạt cho Nhà nước, công ty bắt buộc phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là hoàn trả lại toàn bộ số tiền lương làm thêm ngày lễ còn thiếu, hoặc thanh toán dứt điểm số lương bị nợ cho người lao động. Đồng thời, công ty phải móc hầu bao trả thêm một khoản tiền lãi sinh ra từ số tiền lương chậm trả, trả thiếu đó tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại Nhà nước.
Lưu ý: Mức phạt trên là mức phạt đối với người sử dụng lao động là cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân theo quy định tại Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.