HĐND TP Đồng Nai đã thông qua Nghị quyết số 26, quy định về số lượng, chức danh, mức phụ cấp và chính sách hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách cùng các chức danh tham gia công việc tại thôn, tổ dân phố trên địa bàn. Nghị quyết chính thức có hiệu lực từ ngày 28/8.
Đối tượng áp dụng gồm người hoạt động không chuyên trách, người tham gia hoạt động tại thôn, tổ dân phố, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thực hiện chính sách này.
Theo đó, Nghị quyết cũng quy định chính sách hỗ trợ thôi việc dành cho người hoạt động không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố.
Cụ thể, người hoạt động không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố nghỉ việc do thực hiện sắp xếp thôn, tổ dân phố theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền sẽ được áp dụng theo quy định tại Nghị định số 154.
Thời gian được tính để hưởng chính sách hỗ trợ thôi giữ chức danh người hoạt động không chuyên trách gồm toàn bộ thời gian đảm nhiệm các chức danh không chuyên trách ở cấp xã trước khi sắp xếp (nếu có), tại thôn, tổ dân phố mà chưa từng nhận hỗ trợ thôi việc.
Trường hợp thời gian công tác bị gián đoạn, các khoảng thời gian này vẫn được cộng dồn để tính hưởng hỗ trợ.
Thời gian công tác nếu có số tháng lẻ thì được tính làm tròn theo nguyên tắc như sau: từ 1 tháng đến đủ 6 tháng tính là 0,5 năm và được hưởng trợ cấp bằng mức trợ cấp của 0,5 năm; từ trên 6 tháng đến dưới 12 tháng tính tròn là 1 năm.
Đáng chú ý, trường hợp người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố nghỉ việc và đã được hưởng chế độ, chính sách hỗ trợ theo quy định, nếu được bầu cử, tuyển dụng lại vào các cơ quan, tổ chức, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc bố trí làm người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố trong thời gian 60 tháng, kể từ ngày thực hiện tinh giản biên chế, thì phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp đã nhận cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chi trả trợ cấp.
Trước đó, Nghị định số 154 nêu rõ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố dôi dư do sắp xếp thôn, tổ dân phố nghỉ ngay kể từ khi có quyết định sắp xếp của cấp có thẩm quyền.

Theo đó, người có dưới 5 năm công tác được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với số tháng công tác; trợ cấp bằng 1,5 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác; trợ cấp 3 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng để tìm việc làm; được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Người có từ đủ 5 năm công tác trở lên và có tuổi đời còn dưới 5 năm đến tuổi nghỉ hưu thì được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với số tháng nghỉ sớm so với tuổi nghỉ hưu; trợ cấp bằng 1,5 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác; trợ cấp 3 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng để tìm việc làm; bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Người có từ đủ 5 năm công tác trở lên và có tuổi đời từ đủ 5 năm trở lên đến tuổi nghỉ hưu thì được hưởng trợ cấp một lần bằng 0,8 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng nhân với 60 tháng; trợ cấp bằng 1,5 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện hưởng cho mỗi năm công tác; trợ cấp 3 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng để tìm việc làm; bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định hoặc đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động thì được hưởng trợ cấp một lần bằng 15 tháng phụ cấp hàng tháng hiện hưởng.