Bảng lương tối thiểu vùng năm 2027 của 34 tỉnh, thành phố theo phương án trình Chính phủ như thế nào?

Theo phương án đang được trình Chính phủ, mức lương tối thiểu vùng năm 2027 được đề xuất áp dụng theo 4 vùng, với mức cao nhất 5.310.000 đồng/tháng và thấp nhất 3.700.000 đồng/tháng, áp dụng cho người lao động tại 34 tỉnh, thành phố.

Bảng lương tối thiểu vùng 2027 của 34 tỉnh thành theo phương án trình Chính phủ như thế nào?

Theo Thư viện pháp luật, hiện nay, mức lương tối thiểu vùng được quy định tại Nghị định 293/2025/NĐ-CP như sau:

Vùng

Mức lương tối thiểu tháng

(Đơn vị: đồng/tháng)

Mức lương tối thiểu giờ

(Đơn vị: đồng/giờ)

Vùng I

5.310.000

25.500

Vùng II

4.730.000

22.700

Vùng III

4.140.000

20.000

Vùng IV

3.700.000

17.800

Tuy nhiên, theo dự thảo Nghị định quy định mức tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thay thế Nghị định 293/2025/NĐ-CP trình Chính phủ có nêu ra các lý do cần thiết để xem xét điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng cũng như điều chỉnh các địa bàn vùng nhằm đảm bảo cân bằng mức sống, thị trường lao động cho phù hợp.

Cụ thể, mức lương tối thiểu vùng từ 1/1/2027 dự kiến như sau:

Vùng

Mức lương tối thiểu tháng

(Đơn vị: đồng/tháng)

Mức lương tối thiểu giờ

(Đơn vị: đồng/giờ)

Vùng I

5.700.000

27.400

Vùng II

5.080.000

24.400

Vùng III

4.450.000

21.400

Vùng IV

4.040.000

19.400

Trong đó, sau khi triển khai rà soát, có 05 tỉnh/thành phố đề xuất điều chỉnh địa bàn áp dụng lương tối thiểu (gồm: Hưng Yên, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hồ Chí Minh, Hải Phòng), cụ thể:

- Điều chỉnh từ vùng II lên vùng I đối với: Các xã Thanh Hà, Hà Tây, Hà Bắc, Hà Nam, Hà Đông, Ninh Giang, Vĩnh Lại, Khúc Thừa Dụ, Tân An, Hồng Châu, Thanh Miện, Bắc Thanh Miện, Nam Thanh Miện, Hải Hưng thuộc Thành phố Hải Phòng; phường Bình phước và các xã Cẩm Mỹ, Định Quán, Tân Phú, Thuận Lợi thuộc Thành phố Đồng Nai; Các phường Bà Rịa, Long Hương, Tam Long, các xã Ngãi Giao, Nghĩa Thành, Kim Long, Châu Đức, Long Hải, Long Điền, Bình Khánh, An Thới Đông, Cần Giờ, Thạnh An và Đặc khu Côn Đảo thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

- Điều chỉnh từ vùng III lên vùng II đối với: các phường Điện Bàn, Điện Bàn Đông, An Thắng, Điện Bàn Bắc và các xã Điện Bàn Tây, Gò Nổi thuộc Thành phố Đà Nẵng; phường Phước Long và xã Tân Khai thuộc Thành phố Đồng Nai; các xã Bình Giã, Xuân Sơn, Đất Đỏ, Phước Hải, Hồ Tràm, Xuyên Mộc, Hòa Hội, Bàu Lâm, Bình Châu, Hòa Hiệp thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

- Điều chỉnh từ vùng IV lên vùng III đối với: Các xã Đông Hưng, Bắc Tiên Hưng, Đông Tiên Hưng, Nam Đông Hưng, Bắc Đông Quan, Bắc Đông Hưng, Đông Quan, Nam Tiên Hưng, Tiên Hưng, Quỳnh Phụ, Minh Thọ, Nguyễn Du, Quỳnh An, Ngọc Lâm, Đồng Bằng, A Sào, Tân Tiến, Phụ Dực, Hưng Hà, Tiên La, Lê Quý Đôn, Hồng Minh, Thần Khê, Diên Hà, Ngự Thiên, Long Hưng, Lê Lợi, Kiến Xương, Quang Lịch, Vũ Quý, Bình Thanh, Bình Định, Hồng Vũ, Bình Nguyên, Trà Giang, Vũ Thư, Vũ Tiên, Vạn Xuân thuộc tỉnh Hưng Yên.

a92ee43d-e981-44d5-82f8-e9e141fb0b81-1789226110.png

Doanh nghiệp trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu được không? Mức phạt nếu vi phạm?

Không, theo Điều 90, 91 Bộ luật Lao động 2019 quy định lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Khi người sử dụng lao động trả lương thì mức lương theo công việc, chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu. Trường hợp, doanh nghiệp trả tiền lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu sẽ bị xử phạt theo quy định.

Cụ thể: Theo khoản 3 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có hành vi trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định theo các mức sau đây:

- Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

- Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

- Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người lao động trở lên.

Đồng thời, buộc người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm.

Lưu ý: Mức phạt này áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân. Nếu người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt gấp 2 lần cá nhân. Do đó, nếu doanh nghiệp vi phạm thì mức phạt sẽ từ 40.000.000 đồng đến cao nhất là 150.000.000 đồng.

Những giờ nào được tính vào giờ làm việc được hưởng lương?

Theo Điều 58 Nghị định 145/2020/NĐ-CP về thời giờ được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương, bao gồm:

(1) Nghỉ giữa giờ quy định khoản 2 Điều 64 Nghị định 145/2020/NĐ-CP

(2) Nghỉ giải lao theo tính chất của công việc.

screenshot-1789226049-1789226056.png
Những giờ nào được tính vào giờ làm việc được hưởng lương?

(3) Nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính trong định mức lao động cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người.

(4) Thời giờ nghỉ đối với lao động nữ khi mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trong thời gian hành kinh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019.

(5) Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động.

(6) Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc được người sử dụng lao động đồng ý.

(7) Thời giờ người học nghề, tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 61 Bộ luật Lao động 2019.

(8) Thời giờ mà người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 176 Bộ luật Lao động 2019

(9) khoa để xác định mức độ suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nếu thời giờ đó được thực hiện theo sự bố trí hoặc do yêu cầu của người sử dụng lao động.

(10) Thời giờ đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự, nếu thời giờ đó được hưởng nguyên lương theo quy định của pháp luật về nghĩa vụ quân sự.

Lam Giang (t/h)