Doanh nghiệp có thể bị phạt đến 100 triệu đồng nếu không trả hoặc trả không đủ tiền lương đối với những ngày phép năm người lao động chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết trong 02 trường hợp là người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm.
Cụ thể, theo khoản 2 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm.

Như vậy, có 02 trường hợp làm phát sinh trách nhiệm thanh toán tiền lương đối với những ngày phép năm chưa nghỉ, gồm:
(1) Người lao động thôi việc nhưng còn ngày nghỉ hằng năm chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết;
(2) Người lao động bị mất việc làm nhưng còn ngày nghỉ hằng năm chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết.
Nếu doanh nghiệp không thanh toán hoặc thanh toán không đủ khoản tiền này thì có thể bị xử phạt theo số lượng người lao động bị vi phạm. Cụ thể:
|
Số người lao động bị vi phạm |
Mức phạt đối với cá nhân |
Mức phạt đối với tổ chức, doanh nghiệp |
|
Từ 01 - 10 người |
05 - 10 triệu đồng |
10 - 20 triệu đồng |
|
Từ 11 - 50 người |
10 - 20 triệu đồng |
20 - 40 triệu đồng |
|
Từ 51 - 100 người |
20 - 30 triệu đồng |
40 - 60 triệu đồng |
|
Từ 101 - 300 người |
30 - 40 triệu đồng |
60 - 80 triệu đồng |
|
Từ 301 người trở lên |
40 - 50 triệu đồng |
80 - 100 triệu đồng |
Theo Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền tại khoản 2 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP là mức phạt áp dụng đối với cá nhân; mức phạt đối với tổ chức, doanh nghiệp bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân.
Như vậy, doanh nghiệp có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho những ngày phép năm chưa nghỉ trong trường hợp người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm.
Ngoài ra, căn cứ khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 quy định nghỉ hằng năm trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Căn cứ Nghị định 253/2026/NĐ-CP như sau:
(1) Tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định: Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép phù hợp với quy định về điều kiện và mức tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 và quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức 2025.
(2) Tại khoản 3 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định: Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
(3) Tại khoản 1 Điều 69 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định: Các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Như vậy, căn cứ quy định trên, thu nhập cá nhân đối với tiền trả cho những ngày phép năm còn thừa quy định tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 thì thuộc diện thu nhập miễn thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Trường hợp tiền ngày phép năm còn thừa vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.