Từ 1/8/2026, công chức có 2 điểm mới quan trọng về chế độ thôi việc: Người lao động cần biết

Kể từ ngày 1/8/2026, Nghị định 300/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, mang đến nhiều thay đổi trong công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.

Kể từ ngày 1/8/2026, Nghị định 300/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, mang đến nhiều thay đổi trong công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.

Một trong những nội dung đáng chú ý là quy định mới về chế độ thôi việc đối với công chức, trong đó làm rõ các trường hợp được giải quyết thôi việc và thay đổi cách áp dụng chính sách trợ cấp tương ứng với từng trường hợp cụ thể.

Dưới đây là 2 điểm mới đáng chú ý mà công chức cần nắm rõ.

Quy định rõ 4 trường hợp công chức được giải quyết thôi việc

So với Nghị định 170/2025/NĐ-CP, quy định mới đã cụ thể hóa các trường hợp công chức được xem xét giải quyết thôi việc.

Trước đây, các quy định chủ yếu đề cập đến trường hợp công chức tự nguyện xin thôi việc hoặc bị cho thôi việc mà chưa phân định rõ từng trường hợp áp dụng.

Tuy nhiên, từ ngày 1/8/2026, Nghị định 300/2026/NĐ-CP xác định rõ 4 trường hợp công chức được giải quyết thôi việc, gồm:

  • Thứ nhất, công chức có nguyện vọng xin thôi việc theo nhu cầu cá nhân.
  • Thứ hai, công chức bị đánh giá không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của vị trí việc làm thông qua quá trình theo dõi, đánh giá thường xuyên và cơ quan không còn vị trí việc làm có yêu cầu thấp hơn để bố trí.
  • Thứ ba, công chức bị xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ do yếu tố chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời không có vị trí việc làm phù hợp khác để tiếp tục bố trí.
  • Thứ tư, các trường hợp thôi việc khác theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Việc quy định rõ từng trường hợp được đánh giá sẽ tạo cơ sở pháp lý minh bạch hơn trong quá trình xem xét, giải quyết chế độ thôi việc đối với công chức.

0dbdd5b7-76ea-4cbf-b8a7-1f39487345e5-1785849661.png

Chính sách trợ cấp thôi việc được điều chỉnh theo từng trường hợp

Bên cạnh việc bổ sung các trường hợp được giải quyết thôi việc, Nghị định 300/2026/NĐ-CP cũng thay đổi cách áp dụng chế độ trợ cấp.

Theo quy định trước đây tại Nghị định 170/2025/NĐ-CP, công chức tự nguyện xin thôi việc được hưởng các quyền lợi gồm:

  • Trợ cấp bằng 3 tháng tiền lương hiện hưởng;
  • Trợ cấp thêm 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc;
  • Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội hoặc lựa chọn hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định.

Tuy nhiên, từ ngày 1/8/2026, chế độ trợ cấp được thiết kế theo từng trường hợp cụ thể.

Đối với công chức xin thôi việc theo nguyện vọng cá nhân, mỗi năm làm việc được hưởng trợ cấp bằng 1/2 tháng tiền lương. Đồng thời, người lao động vẫn được bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật.

Đối với công chức không đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm hoặc không hoàn thành nhiệm vụ về chuyên môn, nghiệp vụ, chế độ thôi việc sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động và các quy định pháp luật có liên quan (nếu có). Người thôi việc cũng được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định hiện hành.

Riêng các trường hợp thôi việc khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng chế độ tương ứng theo quy định pháp luật.

duoc-huong-tro-cap-thoi-viec-khi-nao-2503155306-1785849732.jpg

Thời gian nào được tính để hưởng trợ cấp thôi việc?

Bên cạnh các quy định mới, việc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc vẫn được thực hiện theo quy định hiện hành.

Theo đó, thời gian được tính hưởng trợ cấp là tổng thời gian có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc mà trước đó chưa được hưởng trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp phục viên. Trường hợp quá trình công tác bị gián đoạn thì các khoảng thời gian đủ điều kiện vẫn được cộng dồn.

Các khoảng thời gian được tính bao gồm:

  • Thời gian công tác tại các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội;
  • Thời gian phục vụ trong Quân đội nhân dân hoặc Công an nhân dân;
  • Thời gian làm việc tại các hội được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ theo chỉ tiêu biên chế;
  • Thời gian được cử đi đào tạo, bồi dưỡng;
  • Thời gian nghỉ vẫn được hưởng lương theo quy định của pháp luật lao động;
  • Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định của bảo hiểm xã hội;
  • Thời gian bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng sau đó được cơ quan có thẩm quyền kết luận oan, sai;
  • Thời gian bị tạm đình chỉ công tác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Tháng lẻ khi tính trợ cấp thôi việc được làm tròn như thế nào?

08633b9720e041168576065a7416d6a1-70500-1785849743.jpg

Ngoài thời gian công tác, cách làm tròn thời gian làm việc cũng ảnh hưởng trực tiếp đến mức trợ cấp mà công chức được hưởng.

Theo quy định hiện hành:

  • Thời gian lẻ dưới 3 tháng sẽ không được tính;
  • Thời gian từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng được quy đổi thành 1/2 năm làm việc;
  • Thời gian trên 6 tháng đến 12 tháng được tính tròn là 1 năm làm việc.

Quy định này giúp thống nhất cách xác định thời gian tính trợ cấp thôi việc, bảo đảm việc áp dụng được thực hiện đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị.

Công chức cần lưu ý gì từ ngày 1/8/2026?

Việc Nghị định 300/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/8/2026 đánh dấu sự thay đổi đáng kể trong cơ chế quản lý công chức, đặc biệt là đối với chế độ thôi việc.

Không chỉ quy định rõ các trường hợp được giải quyết thôi việc, nghị định còn phân loại chính sách trợ cấp theo từng trường hợp cụ thể thay vì áp dụng chung như trước đây. Điều này được kỳ vọng sẽ nâng cao tính minh bạch, bảo đảm quyền lợi của công chức, đồng thời giúp các cơ quan quản lý có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn trong quá trình thực hiện.

Mai Ngọc (t/h)