Mức lương mới từ 01/01/2027 chênh nhau đến 1.660.000 đồng/tháng (khoảng 41,09%) giữa mức lương vùng 1 và vùng 4 theo dự thảo Nghị định, cụ thể như thế nào?

Theo dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 293/2025/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng dự kiến áp dụng từ ngày 1/1/2027 sẽ tăng ở cả 4 vùng, trong đó vùng 1 là 5,7 triệu đồng/tháng và vùng 4 là 4,04 triệu đồng/tháng.

Mức lương mới từ 01/01/2027 chênh nhau đến 1.660.000 đồng/tháng (khoảng 41,09%) giữa mức lương vùng 1 và vùng 4 theo dự thảo Nghị định, cụ thể như thế nào?

Theo Thư viện pháp luật, theo Điều 3 dự thảo Nghị định tăng lương tối thiểu cho lao động hợp đồng thay thế Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ đối với người lao động làm việc cho người sử dụng lao động theo vùng như sau:

15d5d4de-7aa5-4768-b804-df0cdd40ea39-1789054165.png

Bảng lương mới theo tháng và tỷ lệ tăng như sau:

Như vậy theo dự thảo thì mức lương tối thiểu vùng mới sẽ có khoảng chênh lệch giữa vùng 1 (5.700.000 đồng/tháng) và vùng 4 (4.040.000 đồng/tháng) là 1.660.000 đồng/tháng (khoảng 41,09%).

Mức lương mới từ 01/01/2027 chênh nhau đến 1.660.000 đồng/tháng (khoảng 41,09%) giữa mức lương vùng 1 và vùng 4 theo dự thảo Nghị định, cụ thể như thế nào?

Mức lương mới từ 01/01/2027 chênh nhau đến 1.660.000 đồng/tháng (khoảng 41,09%) giữa mức lương vùng 1 và vùng 4 theo dự thảo Nghị định, cụ thể như thế nào?

Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động thấp hơn lương tối thiểu vùng thì hợp đồng lao động đó có vô hiệu không?

Căn cứ Điều 49 Bộ luật Lao động 2019 quy định:

Hợp đồng lao động vô hiệu

1. Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp sau đây:

a) Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật;

b) Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này;

c) Công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm.

2. Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

Theo đó, đối với trường hợp các điều khoản về tiền lương ghi trong hợp đồng lao động thấp hơn lương tối thiểu vùng thì đã trái với quy định pháp luật tại Điều 90 và Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 do đó hợp đồng lao động này sẽ bị vô hiệu từng phần.

nha-may-2-4693-1634894305-1634-1745-9063-163497580120231213113456-1789054284.jpg
Hướng xử lý cho doanh nghiệp trong trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu từng phần do tiền lương thấp hơn lương tối thiểu vùng ra sao? Ảnh minh họa.

Hướng xử lý cho doanh nghiệp trong trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu từng phần do tiền lương thấp hơn lương tối thiểu vùng ra sao?

Điều 51 Bộ luật Lao động 2019 quy định: Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng; trường hợp không có thỏa ước lao động tập thể thì thực hiện theo quy định của pháp luật; Đồng thời tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để phù hợp với thỏa ước lao động tập thể hoặc pháp luật về lao động.

Dẫn chiếu thêm quy định tại Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP thì hai bên phải thỏa thuận lại mức lương cho đúng quy định và người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần chênh lệch giữa tiền lương đã thỏa thuận lại so với tiền lương trong hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để hoàn trả cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu.

Ngoài ra khi HĐLĐ có lương thấp hơn lương tối thiểu vùng thì doanh nghiệp còn có thể bị xử phạt theo khoản 3 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP như sau:

Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có hành vi trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định theo các mức sau đây:

a) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người lao động trở lên.

Mức phạt trên áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân, trường hợp người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt gấp đôi.

Lam Giang (t/h)