Bảo hiểm xã hội bắt buộc là chính sách an sinh quan trọng, gắn với nhiều quyền lợi lâu dài của người lao động như chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp có quan hệ làm việc, nhận tiền công, tiền lương đều phải đóng BHXH bắt buộc. Pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể các nhóm không thuộc diện tham gia, đồng thời có hướng dẫn riêng đối với lao động thử việc và người làm việc không trọn thời gian.
Những trường hợp được xác định không phải tham gia BHXH bắt buộc
Theo Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, có 3 nhóm trường hợp được xác định không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Thứ nhất, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hoặc trợ cấp hằng tháng.

Đây là nhóm đã được pháp luật xác định rõ không thuộc diện tiếp tục tham gia BHXH bắt buộc. Quy định này nhằm tránh tình trạng một người đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc trong khi đã đang hưởng một trong các chế độ an sinh nói trên.
Đối với một số loại trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng cụ thể, Chính phủ có quy định chi tiết về đối tượng được loại trừ khỏi diện tham gia.
Thứ hai, lao động là người giúp việc gia đình.
Người làm công việc giúp việc gia đình thuộc nhóm không phải tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHXH 2024.
Đây là điểm cần được người lao động và người sử dụng lao động lưu ý, bởi không phải cứ có thỏa thuận làm việc và trả tiền công là mặc nhiên phát sinh nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc.
Thứ ba, một số người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã không hưởng lương đã đủ tuổi nghỉ hưu.
Luật BHXH 2024 đưa người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, một số chức danh quản lý trong doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã không hưởng tiền lương vào diện tham gia BHXH bắt buộc.
Tuy nhiên, nếu những đối tượng này đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động thì không thuộc diện tham gia, ngoại trừ trường hợp thời gian đóng BHXH còn thiếu tối đa 6 tháng theo quy định để đủ điều kiện hưởng lương hưu.
Hợp đồng thử việc không phải đóng BHXH bắt buộc

Một vấn đề được nhiều doanh nghiệp và người lao động quan tâm là trường hợp ký hợp đồng thử việc kéo dài từ 1 tháng trở lên.
Luật BHXH 2024 quy định người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Đáng chú ý, luật cũng quy định dù hợp đồng được gọi bằng tên khác, nếu nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn có thể được xác định là quan hệ lao động thuộc diện tham gia.
Tuy nhiên, Nghị định 158/2025/NĐ-CP đã có quy định cụ thể đối với hợp đồng thử việc.
Theo khoản 5 Điều 3 Nghị định này, người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Nghị định 158/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.
Điều này có nghĩa, nếu doanh nghiệp ký riêng hợp đồng thử việc đúng quy định thì người lao động không phải đóng BHXH bắt buộc trong thời gian thử việc, kể cả trường hợp thời hạn thử việc kéo dài 2 tháng trong phạm vi pháp luật cho phép.
Cơ quan BHXH TP Hà Nội cũng đã trả lời một trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng thử việc 2 tháng với người lao động và xác định người này không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
Không phải cứ làm việc bán thời gian là được miễn đóng BHXH
Một cách hiểu khác cần tránh là cho rằng người làm việc bán thời gian hoặc không trọn thời gian đương nhiên không phải đóng BHXH.
Theo Luật BHXH 2024, người làm việc không trọn thời gian nhưng có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất vẫn thuộc đối tượng tham gia.
Ngược lại, Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định người làm việc không trọn thời gian có tiền lương trong tháng, tính theo quy định của nghị định, thấp hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất thì không thuộc diện tham gia.
Do đó, khi xác định nghĩa vụ BHXH đối với lao động bán thời gian, cần xem xét đồng thời hình thức làm việc, tiền lương thực tế trong tháng và căn cứ đóng BHXH, thay vì chỉ dựa vào việc người lao động làm toàn thời gian hay bán thời gian.
Không nên chỉ căn cứ vào tên gọi của hợp đồng

Một điểm đáng chú ý trong chính sách BHXH hiện hành là cơ quan chức năng không chỉ xem xét tên của văn bản mà còn căn cứ vào bản chất của quan hệ làm việc.
Nếu hai bên gọi thỏa thuận là "hợp đồng cộng tác viên", "hợp đồng dịch vụ" hoặc một tên gọi khác nhưng nội dung thực tế thể hiện có việc làm, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn có khả năng thuộc diện BHXH bắt buộc theo quy định.
Ngược lại, trường hợp hợp đồng thử việc được giao kết đúng quy định pháp luật lao động thì được Nghị định 158/2025/NĐ-CP xác định rõ là không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
Như vậy, người lao động và doanh nghiệp cần xác định đúng bản chất quan hệ lao động, loại hợp đồng và mức tiền lương để thực hiện nghĩa vụ BHXH. Việc tự ý không đóng BHXH cho người thuộc diện bắt buộc hoặc xác định sai đối tượng có thể dẫn đến phát sinh nghĩa vụ truy đóng và các trách nhiệm liên quan theo quy định pháp luật.
Tóm lại, các trường hợp đáng chú ý không phải tham gia BHXH bắt buộc gồm người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hoặc trợ cấp hằng tháng; lao động là người giúp việc gia đình; một số người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã không hưởng lương đã đủ tuổi nghỉ hưu; người làm việc theo hợp đồng thử việc đúng quy định và một số lao động không trọn thời gian có mức tiền lương thấp hơn ngưỡng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc.