Từ 01/01/2027 tiếp tục tăng tuổi nghỉ hưu và tăng lương tối thiểu từ 07,34%/tháng ở các vùng theo dự thảo ra sao?
Theo Thư viện pháp luật, Nghị định 135/2020/NĐ-CP như sau: Nhìn chung tuổi nghỉ hưu từ 01/01/2027 sẽ tăng cao hơn 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.
Theo lộ trình thì tuổi nghỉ hưu năm 2027 của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là 61 tuổi 9 tháng đối với nam, 57 tuổi 4 tháng đối với nữ (năm 2025 là 61 tuổi 3 tháng đối với lao động nam và 56 tuổi 8 tháng với lao động nữ).
Bên cạnh việc tăng tuổi nghỉ hưu thì cũng có dự kiến tăng lương tối thiểu vùng từ 01/01/2027
Cụ thể, theo Điều 3 dự thảo Nghị định tăng lương tối thiểu cho lao động hợp đồng thay thế Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ đối với người lao động làm việc cho người sử dụng lao động theo vùng như sau:

Bảng lương và tỷ lệ tăng lương theo tháng như sau:
Qua đó, có thể thấy bảng lương theo tháng tăng thấp nhất là 7,34% ở vùng 1 vào năm 2027 theo dự thảo.
Vùng 2 tăng 7,40%
Vùng 3 tăng 7,49%
Vùng 4 tăng 9,19%.
Nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động cần đáp ứng tỷ lệ suy giảm tối thiểu bao nhiêu %?
Căn cứ Điều 65 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động cần đáp ứng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động tối thiểu từ 61% trở lên và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.
- Nghỉ hưu sớm 5 tuổi: Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81% và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.
- Nghỉ hưu sớm 10 tuổi: Bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.
- Được nghỉ hưu luôn không cần xét đến tuổi nghỉ hưu: Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có ít nhất 15 năm làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, đồng thời đã đóng đủ 20 năm bảo hiểm xã hội trở lên.
Người đang hưởng lương hưu có được đi làm lại không?
Có. Người đang hưởng lương hưu hoàn toàn được quyền đi làm lại theo hợp đồng lao động mới mà không bị cắt lương hưu. Họ không thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế hay bảo hiểm thất nghiệp, do đó người sử dụng lao động sẽ chi trả các khoản này trực tiếp cùng tiền lương.

Theo khoản 2 Điều 149 Bộ luật Lao động 2019, người lao động cao tuổi đang hưởng lương hưu khi làm việc theo hợp đồng lao động mới thì ngoài quyền lợi từ chế độ hưu trí, vẫn được hưởng tiền lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật và nội dung hợp đồng lao động.
Bên cạnh đó, căn cứ Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, nếu người sử dụng lao động và người đã nghỉ hưu có thỏa thuận về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên thì phải giao kết hợp đồng lao động trước khi bắt đầu làm việc.
Hai bên có thể lựa chọn ký hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn. Trường hợp ký hợp đồng xác định thời hạn, pháp luật cho phép các bên được thỏa thuận ký nhiều lần loại hợp đồng này. Vì vậy, doanh nghiệp có thể cân nhắc lựa chọn hình thức hợp đồng phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động.
Trên thực tế, với người lao động đã nghỉ hưu, sức khỏe và thời gian gắn bó thường có giới hạn, nên phương án phù hợp thường là ký hợp đồng lao động có thời hạn. Khi hết hạn hợp đồng, nếu hai bên vẫn có nhu cầu thì tiếp tục ký hợp đồng mới.
Về bảo hiểm, theo khoản 7 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người đang hưởng lương hưu mà đi làm theo hợp đồng lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Đồng thời, họ cũng không thuộc diện tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc theo quan hệ lao động này.
Do không phải tham gia các loại bảo hiểm bắt buộc nêu trên, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng kỳ lương cho người lao động một khoản tiền tương đương phần nghĩa vụ đóng bảo hiểm bắt buộc mà doanh nghiệp đáng lẽ phải đóng theo quy định.